Nỗi sợ bỏ lỡ (FOMO): Căn bệnh âm thầm trong kỷ nguyên số
Trong một xã hội kết nối gần như 24/7, nơi thông báo, dòng trạng thái và video ngắn có thể xuất hiện từng phút, một nỗi bất an cũng trở nên quen thuộc hơn: FOMO, nỗi sợ bỏ lỡ. Không chỉ là cảm giác bồn chồn khi thấy bạn bè đi du lịch, được thăng […]
Trong một xã hội kết nối gần như 24/7, nơi thông báo, dòng trạng thái và video ngắn có thể xuất hiện từng phút, một nỗi bất an cũng trở nên quen thuộc hơn: FOMO, nỗi sợ bỏ lỡ. Không chỉ là cảm giác bồn chồn khi thấy bạn bè đi du lịch, được thăng chức hay dự một sự kiện mà ta vắng mặt, FOMO còn là cảm giác rằng ở đâu đó đang có một điều đáng giá xảy ra mà mình không được tham dự, không kịp biết hoặc đang bị bỏ lại phía sau.
Thuật ngữ “FOMO”, viết tắt của Fear of Missing Out, thường được gắn với Patrick J. McGinnis, người sử dụng nó trong một bài viết trên The Harbus của Trường Kinh doanh Harvard vào năm 2004. Về sau, khái niệm này bước vào nghiên cứu tâm lý học và trở nên đặc biệt quen thuộc trong thời đại mạng xã hội.
Nhưng FOMO không bắt đầu từ mạng xã hội.
Con người từ lâu đã biết tiếc một bữa tiệc mình không được mời, một cơ hội mình không nắm lấy, một cuộc vui diễn ra khi mình vắng mặt hay một con đường mà người khác đã chọn còn mình thì không. Công nghệ không tạo ra hoàn toàn nỗi sợ ấy. Nó chỉ khiến chúng ta có khả năng nhìn thấy những gì mình đang bỏ lỡ với tần suất chưa từng có.
Ngày trước, một buổi gặp mặt mà ta không tham dự có thể đơn giản trôi qua. Hôm nay, ta có thể nhìn thấy ảnh của nó ngay trong đêm, xem video vào sáng hôm sau, biết ai đã đến, họ đã nói gì và dường như đã vui đến mức nào. Một cơ hội từng nằm ngoài tầm mắt giờ có thể liên tục xuất hiện trên màn hình.
Và đó là lúc một nghịch lý xuất hiện: càng biết nhiều về những gì đang diễn ra ở nơi khác, ta càng dễ cảm thấy nơi mình đang đứng chưa đủ.
So sánh xã hội có thể góp phần vào cảm giác ấy. Khi nhìn thấy thành tựu, trải nghiệm hay những khoảnh khắc đẹp trong cuộc đời người khác, ta rất dễ dùng chúng như một điểm tham chiếu cho chính mình. Nhưng FOMO không hoàn toàn giống với sự so sánh.
So sánh khiến ta hỏi: “Tại sao người khác có mà mình không có?”. FOMO khiến ta hỏi: “Có phải một điều quan trọng đang xảy ra ở nơi khác mà mình đang bỏ lỡ?”.
Hai cảm giác có thể xuất hiện cùng nhau, nhưng chúng không phải một.
Nghiên cứu của Andrew Przybylski và cộng sự năm 2013 mô tả FOMO như một trạng thái lo ngại rằng người khác có thể đang có những trải nghiệm đáng giá mà mình vắng mặt, đi kèm mong muốn duy trì kết nối liên tục với những gì người khác đang làm. Nghiên cứu cũng ghi nhận mối liên hệ giữa mức FOMO cao hơn với mức hài lòng nhu cầu tâm lý và hài lòng cuộc sống thấp hơn, đồng thời với mức độ tham gia mạng xã hội cao hơn.
Điều đáng suy nghĩ không chỉ nằm ở mạng xã hội, mà ở trạng thái tâm trí phía sau nó.
Ta kiểm tra điện thoại không hẳn vì đang cần một thông tin cụ thể, mà vì sợ có điều gì đó vừa xảy ra. Ta nhận lời một cuộc gặp không hẳn vì thực sự muốn đi, mà vì sợ nếu không có mặt mình sẽ bỏ lỡ một mối quan hệ hay một cơ hội. Ta tiếp tục theo dõi một dòng tin dù đã mệt, bởi cảm giác rời đi khiến ta bất an.
FOMO vì thế có thể khiến một người hiện diện ở rất nhiều nơi nhưng lại khó ở trọn vẹn tại bất kỳ nơi nào.
Khi đang ăn tối, ta nghĩ đến một cuộc vui khác. Khi đang nghỉ ngơi, ta nghĩ đến người khác đang làm việc. Khi đang làm việc, ta lại thấy người khác đang đi du lịch. Khi đã lựa chọn một con đường, ta vẫn liên tục nhìn sang những con đường mình không chọn.
Và rồi vấn đề không còn là ta thực sự thiếu điều gì.
Vấn đề là mọi lựa chọn đều có thể trở nên thiếu thốn khi đặt cạnh vô số khả năng khác.
Có lẽ đây mới là phần khó nhất của FOMO: nó khiến ta quên rằng một đời người hữu hạn thì nhất định phải bỏ lỡ.
Ta không thể dự mọi cuộc gặp. Không thể đọc mọi cuốn sách. Không thể biết mọi tin tức. Không thể nhận mọi cơ hội. Không thể duy trì mọi mối quan hệ ở cùng một mức độ. Không thể vừa dành toàn bộ thời gian xây dựng sự nghiệp, vừa có toàn bộ thời gian cho gia đình, bạn bè, du lịch, nghỉ ngơi và tất cả những cuộc đời khác mà mình từng có thể sống.
Mỗi lựa chọn thực sự đều đồng thời là một sự từ bỏ.
Chọn ở lại một nơi có nghĩa là trong khoảnh khắc ấy ta không ở một nơi khác. Chọn dành thời gian cho một người đồng nghĩa với việc không dành khoảng thời gian ấy cho rất nhiều người khác. Chọn đi sâu vào một con đường đồng nghĩa với việc chấp nhận rằng có những con đường khác mình sẽ không bao giờ đi hết.
Nếu không chấp nhận điều đó, ta có thể dành cả đời để đứng giữa những cánh cửa, liên tục nhìn xem phía sau cánh cửa nào có vẻ thú vị hơn mà không thật sự bước sâu vào bất kỳ căn phòng nào.
Lối ra vì thế không phải là biết nhiều hơn để chắc chắn mình không bỏ lỡ điều gì. Điều đó gần như bất khả thi.
Lối ra cũng không nhất thiết là rời bỏ mạng xã hội hay cắt đứt kết nối với thế giới. Công nghệ vẫn có thể giúp ta học hỏi, duy trì quan hệ và biết đến những cơ hội mà trước đây mình không thể tiếp cận.
Điều quan trọng hơn là học cách phân biệt giữa điều mình thực sự muốn biết với điều mình chỉ sợ không được biết; giữa nơi mình thực sự muốn có mặt với nơi mình chỉ muốn xuất hiện vì mọi người khác đều đang ở đó; giữa một cơ hội phù hợp với mình và một cơ hội chỉ trở nên hấp dẫn vì người khác đang có nó.
Có một khái niệm thường được đặt đối diện với FOMO là JOMO, Joy of Missing Out, niềm vui của việc bỏ lỡ. Nhưng có lẽ không cần biến việc bỏ lỡ thành một niềm vui trong mọi trường hợp. Có những cơ hội bỏ lỡ khiến ta tiếc. Có những cuộc gặp vắng mặt khiến ta buồn. Có những lựa chọn sai khiến ta phải trả giá.
Điều trưởng thành hơn có lẽ không phải vui vì mình bỏ lỡ, mà là chấp nhận rằng mình không thể có mặt trong mọi khả năng của cuộc đời và bình thản với những điều mình đã chủ động không chọn.
Khi biết điều gì quan trọng với mình, việc bỏ lỡ những thứ khác trở nên dễ chịu hơn. Không phải bởi chúng không có giá trị, mà bởi một thứ có giá trị không đồng nghĩa với việc nó phải thuộc về cuộc đời mình.
FOMO vì thế không chỉ là câu chuyện của smartphone hay mạng xã hội. Ở tầng sâu hơn, nó đặt ra một câu hỏi về khả năng lựa chọn:
Ta có đủ tin vào điều mình đã chọn để thôi liên tục nhìn sang cuộc đời mình không sống hay không?
Bởi vì sợ bỏ lỡ những gì đang xảy ra ở nơi khác, đôi khi ta lại bỏ lỡ chính cuộc đời đang xảy ra ở đây.
Trưởng thành có lẽ không phải là không còn sợ bỏ lỡ. Mà là biết điều gì đáng để mình bình thản bỏ lỡ vì đã tìm thấy điều đáng để ở lại.
Minh Quân Nguyễn
