Khi nào sự kiên trì trở thành cố chấp?
Tôi có một xu hướng khá rõ trong nhiều việc của cuộc sống: nếu đã thực sự quan tâm tới một điều gì đó, tôi thường muốn làm hết những gì mình có thể làm trước khi chấp nhận rằng nó không còn đi tiếp được nữa. Một phần vì tôi không thích cảm giác […]
Tôi có một xu hướng khá rõ trong nhiều việc của cuộc sống: nếu đã thực sự quan tâm tới một điều gì đó, tôi thường muốn làm hết những gì mình có thể làm trước khi chấp nhận rằng nó không còn đi tiếp được nữa. Một phần vì tôi không thích cảm giác nhiều năm sau nhìn lại rồi tự hỏi: giá như ngày ấy mình cố thêm một chút thì sao?
Cách sống đó từng giúp tôi trong công việc. Có những thời điểm kết quả chưa tới, lựa chọn mình đưa ra chưa chứng minh được điều gì và mọi thứ nhìn khá tối. Nhưng nếu tiếp tục đủ lâu, đôi khi một cơ hội khác lại xuất hiện. Có những việc khi xảy ra không hề hoàn hảo, thậm chí từng khiến tôi hoài nghi, nhưng về sau nhìn lại tôi mới thấy nếu không có A, có lẽ B và C cũng khó xuất hiện theo cách chúng đã xuất hiện. Tôi thường nhìn những chuỗi sự kiện như vậy với cảm giác rằng có những đoạn đường mình buộc phải đi qua mới tới được một nơi mà trước đó mình chưa thể nhìn thấy. Chính vì thế, câu hỏi trở nên khó hơn: nếu mình từng được tưởng thưởng vì đã không bỏ cuộc, làm sao biết lần tiếp theo mình đang kiên trì hay chỉ đang cố chấp?
Kiên trì và cố chấp đều có thể trông giống như không bỏ cuộc
Từ bên ngoài, một người kiên trì và một người cố chấp có thể làm gần như cùng một việc. Họ tiếp tục khi chưa có kết quả, chịu thêm khó khăn, bỏ thêm thời gian hoặc nguồn lực vào điều mình tin và không thay đổi chỉ vì vài lời phản đối. Vì thế, tôi không nghĩ có thể phân biệt hai thứ bằng việc một người đã theo đuổi điều gì đó bao lâu. Khác biệt quan trọng hơn nằm ở khả năng để thực tế thay đổi cách mình suy nghĩ.
Một người kiên trì vẫn có thể rất quyết tâm, nhưng họ còn quan sát. Họ xem điều gì đang hiệu quả, điều gì không, thông tin mới nói gì và hoàn cảnh đã thay đổi ra sao. Họ có thể thay phương pháp mà không coi đó là phản bội mục tiêu. Nếu những bằng chứng đủ mạnh, họ thậm chí có thể xem lại điều mình từng tin. Cố chấp bắt đầu khi một quyết định dần được miễn khỏi quá trình kiểm tra ấy. Ta không còn tiếp tục vì thực tế vẫn cho thấy việc đó đáng theo đuổi, mà vì trong đầu mình đã hình thành một nguyên tắc khác: mình không được phép bỏ.
Khó khăn chưa phải bằng chứng rằng nên dừng
Tôi cũng không đồng ý với cách nghĩ ngược lại rằng hễ một việc khiến mình mệt, không còn vui hoặc chưa đem lại kết quả thì nên “buông”. Nếu sống như vậy, rất nhiều việc đáng làm sẽ chẳng bao giờ hoàn thành. Một công việc mới có thể cần thời gian trước khi mình đủ giỏi. Một dự án có thể phải trải qua vài lần sai trước khi người làm hiểu vấn đề thực sự nằm ở đâu. Có những giai đoạn mà điều giúp một người đi xa hơn đơn giản là họ chịu ở lại với một vấn đề lâu hơn.
Nghiên cứu về điều chỉnh mục tiêu cũng không đưa ra một thông điệp đơn giản kiểu “biết bỏ cuộc thì sẽ tốt hơn”. Một phân tích gộp lớn công bố năm 2025 trên Nature Human Behaviour tổng hợp 235 nghiên cứu, 281 mẫu và 1.421 kích thước hiệu ứng về rời bỏ mục tiêu, tái gắn kết với mục tiêu khác và sự linh hoạt trong quá trình theo đuổi mục tiêu. Các hình thức điều chỉnh này có những mối liên hệ khác nhau với tiến triển mục tiêu và trạng thái tâm lý; đồng thời chính nhóm tác giả cũng lưu ý nền bằng chứng hiện tại còn nhiều giới hạn. Điều đó khá phù hợp với đời sống: không có một nút bấm chung mang tên “tiếp tục” hoặc “dừng lại”. Câu hỏi hữu ích hơn với tôi là: mình đang tiếp tục vì còn có lý do để tin vào tương lai của việc này, hay vì không chấp nhận được khả năng lựa chọn trong quá khứ của mình có thể đã sai?
Khi lý do tiếp tục ngày càng nằm ở quá khứ
“Đã mất mấy năm rồi”, “đã bỏ quá nhiều tiền rồi”, “đã cố đến mức này rồi”, hay “bây giờ dừng thì chẳng phải tất cả những gì trước đây trở nên vô nghĩa sao?” là những suy nghĩ rất dễ hiểu. Nhưng chúng có một điểm chung: chúng nói rất nhiều về những gì đã xảy ra, trong khi gần như không nói được gì về điều có khả năng xảy ra từ hôm nay trở đi.
Một nghiên cứu kinh điển của Barry Staw năm 1976 cho 240 sinh viên trường kinh doanh tham gia mô phỏng một quyết định đầu tư. Trong bối cảnh thí nghiệm đó, những người mang trách nhiệm cá nhân đối với quyết định trước và nhận kết quả tiêu cực lại có thể cam kết thêm nhiều nguồn lực hơn cho hướng đã chọn. Một thí nghiệm về đầu tư tất nhiên không thể giải thích thay cho mọi quyết định trong nghề nghiệp hay quan hệ, nhưng nó minh họa một điều khá gần với đời sống: càng gắn bản thân với một quyết định, ta càng khó nhìn nó đơn thuần như một quyết định có thể sửa.
Khi ấy, dừng lại không còn chỉ là đổi kế hoạch. Nó dễ mang cảm giác như mình phải thừa nhận đã sai, đã lãng phí thời gian hoặc những điều mình từng tuyên bố không còn đúng nữa. Và có những lúc, chỉ để bảo vệ quá khứ, ta tiếp tục đem tương lai ra trả giá.
Mong muốn không hối tiếc cũng có thể trở thành một cái bẫy
Đây có lẽ là phần gần với tôi nhất. Trong nhiều tình huống, trước khi rời đi tôi muốn biết rằng mình đã làm phần của mình đủ đầy. Tôi đã thử cách khác, đã nói điều cần nói, đã cho thêm thời gian, đã tự xem lại trách nhiệm thuộc về mình. Khi mọi thứ vẫn không thay đổi, việc rời khỏi nó trở nên nhẹ hơn vì tôi không còn phải sống quá lâu với câu hỏi “nếu ngày ấy mình cố thêm thì sao?”.
Tôi vẫn coi điều đó là một giá trị, nhưng càng về sau tôi càng phải thừa nhận rằng mong muốn không để lại hối tiếc cũng có thể trở thành một lý do rất thuyết phục để kéo dài một điều vốn không còn tốt. Trong công việc, cố thêm một lần đôi khi thực sự giúp mình tìm thấy phương pháp khác, học thêm một điều mới hoặc mở ra một cơ hội chưa từng nhìn thấy. Tôi đã trải qua những trường hợp như vậy, nên không dễ bảo mình rằng cứ thấy khó là nên bỏ.
Nhưng với các mối quan hệ, tôi đã thấy một giới hạn khác. Một người có thể thay đổi rất nhiều ở phía mình và nhờ đó làm một mối quan hệ tốt lên, nhưng một người không thể một mình bảo đảm kết quả cho một mối quan hệ mà sự tồn tại của nó còn phụ thuộc vào lựa chọn và sự tham gia của phía còn lại. Nếu một bên liên tục giải thích, sửa chữa, cho thêm cơ hội hoặc cố kéo trong khi điều cốt lõi không thay đổi, “cố thêm” có thể chỉ kéo dài thời gian cả hai ở trong một điều không còn lành mạnh. Khi ấy, điều đáng hỏi không phải chỉ là mình còn cố được bao lâu, mà là một lần cố gắng nữa có thực sự tạo ra khả năng thay đổi nào mới hay chỉ lặp lại điều đã xảy ra nhiều lần trước đó.
Không nhất thiết phải bỏ mục tiêu chỉ vì một cách làm thất bại
Có một sự phân biệt từng giúp tôi khá nhiều: mục tiêu và con đường đi tới mục tiêu không phải một. Có những lúc thứ cần bỏ không phải điều mình muốn đạt tới, mà chỉ là cách mình đang cố đạt tới nó. Thay người hợp tác, thay phương pháp, thay kế hoạch hoặc thay thời điểm không nhất thiết là đầu hàng. Đôi khi chính khả năng đó mới giúp một mục tiêu tồn tại.
Tôi đã viết riêng về câu hỏi khi nào nên thay đổi một quyết định mình từng tin là đúng, nên ở đây tôi không muốn lặp lại toàn bộ vấn đề đó. Điều quan trọng với bài này chỉ là: cố chấp thường bắt đầu khi ta gắn cái tôi vào một phương án đến mức thay phương án cũng được cảm nhận như thừa nhận thất bại. Ngược lại, cũng có trường hợp không chỉ con đường mà chính cái đích đã không còn phù hợp. Các nghiên cứu của Wrosch và cộng sự về những mục tiêu không còn khả thi phân biệt khả năng rời khỏi một mục tiêu với khả năng tái đầu tư vào những mục tiêu khác, coi đó là những thành phần khác nhau của quá trình tự điều chỉnh chứ không đơn giản là “bỏ cuộc”. Với tôi, điều đáng giữ từ cách nhìn này khá đơn giản: sự bền bỉ không đòi hỏi ta phải trung thành vô thời hạn với mọi mục tiêu mình từng đặt ra.
Nếu hôm nay bắt đầu từ số không, tôi còn chọn việc này không?
Đây là một câu hỏi tôi thấy khá hữu ích khi bắt đầu nghi ngờ liệu mình còn đang kiên trì đúng chỗ hay không. Giả sử thời gian, tiền bạc, công sức và những lời mình từng nói về việc này không còn tạo ra áp lực. Không có ai để mình phải chứng minh rằng ngày trước mình đúng. Hôm nay mình được đứng trước lựa chọn ấy lần đầu tiên, nhưng vẫn giữ toàn bộ những thông tin mình đã biết sau quãng thời gian vừa qua: mình có còn chọn bắt đầu không?
Nếu câu trả lời vẫn là có, ít nhất lý do tiếp tục vẫn còn nằm ở phía trước. Nếu câu trả lời đã là không, nhưng mình vẫn chỉ tiếp tục bởi “đã đi quá xa rồi”, tôi nghĩ đó là lúc cần xem lại rất nghiêm túc.
Tất nhiên đời sống không thực sự cho phép ta quay về số không. Một doanh nghiệp còn nhân sự, một gia đình còn nghĩa vụ, một lời hứa còn người chịu ảnh hưởng. Vì thế câu hỏi này không phải công thức ra quyết định. Nó chỉ giúp tôi tách hai thứ rất dễ bị trộn lẫn: giá trị tương lai của lựa chọn và chi phí quá khứ đã bỏ vào lựa chọn ấy.
Linh cảm là lý do để kiểm tra, không phải lý do để kết luận
Có những thời điểm trước khi mọi con số trở nên rõ ràng, tôi đã có cảm giác một điều gì đó không ổn. Tôi coi trọng cảm giác ấy, nhưng không cho rằng linh cảm luôn đúng. Một tuần quá mệt có thể khiến mọi thứ trông xấu hơn thực tế. Một thất bại mới xảy ra có thể khiến mình đánh giá quá thấp một việc mà vài tháng sau lại khác. Vì thế, với tôi, linh cảm nên là lý do để bắt đầu kiểm tra, không phải lý do để ngay lập tức loại bỏ một điều quan trọng.
Tôi sẽ nhìn thêm vào dữ liệu. Tổn thất có tăng không? Kết quả có thực sự không cải thiện trong một khoảng thời gian đủ dài không? Mình đã thử những cách khác nhau hay chỉ thay tên cho cùng một cách làm? Vấn đề cũ có tiếp tục quay trở lại không? Và sau nhiều tháng, điều này khiến mình trở nên tốt hơn hay phần lớn chỉ để lại mỏi mệt, bực tức và lấy đi năng lượng của những phần khác trong cuộc sống?
Một ngày tồi tệ hay một giai đoạn khó khăn chưa đủ để kết luận. Nhưng khi linh cảm, số liệu, tổn thất và cùng một mô hình lặp lại bắt đầu cùng chỉ về một hướng, việc gọi tất cả những gì đang xảy ra là “cái giá của sự kiên trì” có thể chỉ là một cách để trì hoãn câu hỏi mình không muốn trả lời.
Khi nào sự kiên trì trở thành cố chấp?
Tôi không nghĩ có một con số cho câu hỏi này. Với tôi, ranh giới bắt đầu xuất hiện khi mình không còn thực sự cập nhật theo thực tế; khi mọi thông tin trái với niềm tin ban đầu đều được giải thích theo cách bảo vệ quyết định cũ; khi lý do mạnh nhất để tiếp tục chỉ còn là thời gian, tiền bạc, tình cảm hoặc danh dự đã bỏ vào đó; và khi “cố thêm” không còn tạo ra một phương án, một dữ liệu hay một khả năng mới nào mà chỉ lặp lại điều đã xảy ra nhiều lần trước.
Tôi vẫn muốn giữ phần tính cách khiến mình không dễ bỏ cuộc. Nếu phải chọn giữa việc rời đi quá sớm và việc cố đủ lâu để biết mình đã làm những gì có thể, tôi có lẽ vẫn thường nghiêng về phía thứ hai. Nó từng đưa tôi qua những quãng rất khó và tới những kết quả mà nếu bỏ sớm, tôi sẽ không bao giờ biết chúng tồn tại. Nhưng có một điều khác tôi ngày càng muốn học tốt hơn: không phải mọi thứ mình còn đủ sức để tiếp tục đều là thứ mình nên tiếp tục.
Kiên trì không nhất thiết là cam kết với phiên bản quá khứ của mình bằng mọi giá. Có lẽ sự kiên trì trưởng thành hơn là đủ bền bỉ để không bỏ một điều chỉ vì nó khó, nhưng vẫn đủ tỉnh táo để nhận ra khi thực tế đã thay đổi, đủ khiêm tốn để sửa điều mình từng tin và đủ can đảm để dừng lại khi lý do duy nhất còn giữ mình ở đó là nhu cầu chứng minh rằng ngày trước mình không sai.