Khi mọi trải nghiệm đều có thể trở thành nội dung, ta còn sống cho mình bao nhiêu?
Có những khoảnh khắc đẹp mà tôi muốn ghi lại bằng một bức ảnh, một đoạn video hoặc vài dòng chữ. Đôi khi, tôi muốn chia sẻ niềm vui ấy với người thân, bạn bè. Nhưng cũng có những trải nghiệm tôi chỉ muốn giữ cho riêng mình, không đăng lên mạng xã hội và […]
Có những khoảnh khắc đẹp mà tôi muốn ghi lại bằng một bức ảnh, một đoạn video hoặc vài dòng chữ. Đôi khi, tôi muốn chia sẻ niềm vui ấy với người thân, bạn bè. Nhưng cũng có những trải nghiệm tôi chỉ muốn giữ cho riêng mình, không đăng lên mạng xã hội và cũng không nhất thiết phải kể lại với nhiều người. Tôi nhận thấy có những điều càng ít công khai, khi nhìn lại càng cảm thấy đáng quý.
Tôi không cho rằng ghi lại hay chia sẻ những khoảnh khắc trong cuộc sống là điều gì sai. Một bức ảnh có thể lưu giữ ký ức, một bài viết có thể truyền tải những suy nghĩ có ý nghĩa, và một câu chuyện được kể đúng lúc có thể đem đến niềm vui cho người khác. Bản thân tôi cũng là người viết, có nhu cầu chia sẻ những trải nghiệm, quan điểm và điều mình tin tưởng. Tôi hiểu rằng việc kể lại những gì đã sống đôi khi cũng đem đến một giá trị riêng, cả cho người kể lẫn người đọc.
Tuy nhiên, tôi từng quan sát thấy những người quá bận rộn với việc chụp ảnh, quay video hoặc tìm kiếm một góc hình đẹp đến mức dường như không còn dành nhiều sự chú ý cho chính trải nghiệm đang diễn ra. Điều đó khiến tôi thường chỉ chụp khi thấy cần thiết, còn lại muốn dành thời gian để cảm nhận. Bởi không phải điều gì đáng nhớ cũng có thể được lưu giữ đầy đủ trong một khuôn hình.
Khi mạng xã hội khiến hầu như mọi trải nghiệm đều có thể trở thành nội dung, có lẽ chúng ta nên tự hỏi: mình đang chia sẻ những điều đã thực sự sống, hay đôi khi bắt đầu lựa chọn cách sống dựa trên việc những điều ấy sẽ được thể hiện trước người khác như thế nào?
Không phải trải nghiệm nào cũng cần có khán giả
Chúng ta có nhiều lý do chính đáng để chia sẻ cuộc sống. Một chuyến đi có thể trở thành dịp kể chuyện với bạn bè; một thành quả trong công việc có thể mang lại niềm vui cho những người đã đồng hành; một suy nghĩ được viết ra có thể giúp người khác nhìn nhận vấn đề từ một góc độ mới. Khi xuất phát từ mong muốn kết nối hoặc đóng góp, sự chia sẻ có thể khiến ý nghĩa của một trải nghiệm vượt ra ngoài phạm vi cá nhân.
Nhưng giá trị của một trải nghiệm không nhất thiết bắt đầu từ thời điểm người khác biết đến nó. Một cuộc trò chuyện khiến mình hiểu người thân hơn, một khoảng thời gian được nghỉ ngơi thực sự hay một buổi chiều cảm thấy bình yên vẫn có thể đáng nhớ dù không được ghi lại hoặc kể cho ai. Những điều ấy có giá trị trước hết vì chúng đã diễn ra và có ý nghĩa với những người trong cuộc.
Tôi nghĩ sự khác biệt nằm ở chỗ chúng ta chia sẻ một niềm vui đã có, hay bắt đầu cần đến sự chú ý của người khác để xác nhận rằng niềm vui ấy đáng kể. Được quan tâm và chia vui là một điều tự nhiên; tôi không muốn phủ nhận nhu cầu ấy. Nhưng nếu một trải nghiệm chỉ còn được đánh giá bằng số người nhìn thấy hoặc mức độ hưởng ứng mà nó tạo ra, cảm nhận của chính mình có thể dần trở thành yếu tố thứ yếu.
Điều đó không có nghĩa một trải nghiệm được công khai sẽ kém chân thực hơn một trải nghiệm được giữ riêng. Có những niềm vui trở nên trọn vẹn hơn nhờ được chia sẻ. Điều tôi muốn giữ là khả năng tự mình nhận ra giá trị của những gì đang sống, trước cả khi quyết định có kể lại chúng cho người khác hay không.
Chụp ảnh có thể giúp ta nhìn kỹ hơn, nhưng không phải lúc nào cũng vậy
Có một lời khuyên khá phổ biến rằng muốn tận hưởng trọn vẹn một khoảnh khắc thì tốt nhất đừng lấy điện thoại ra chụp ảnh. Tôi hiểu ý nghĩa của lời khuyên ấy, nhưng không nghĩ nó đúng trong mọi hoàn cảnh.
Trong nghiên cứu công bố năm 2016 trên Journal of Personality and Social Psychology, Kristin Diehl, Gal Zauberman và Alixandra Barasch thực hiện chín thí nghiệm để tìm hiểu tác động của việc chụp ảnh đối với mức độ tận hưởng trải nghiệm. Nhóm nghiên cứu nhận thấy hành động chụp ảnh có thể làm tăng sự thích thú đối với những trải nghiệm tích cực khi nó khiến người tham gia chú ý và gắn kết hơn với điều đang diễn ra. Tuy nhiên, tác động ấy có thể không xuất hiện nếu bản thân trải nghiệm đã đòi hỏi sự tập trung cao, hoặc việc chụp ảnh cản trở hoạt động chính. [Nguồn nghiên cứu]
Kết quả này gợi ra một điều thú vị. Khi muốn ghi lại một cảnh đẹp, đôi khi ta phải quan sát kỹ hơn ánh sáng, màu sắc, bố cục hoặc một chi tiết mà trước đó mình chưa chú ý. Việc chụp ảnh, nếu được thực hiện có chủ đích, không nhất thiết kéo ta ra khỏi khoảnh khắc. Trong một số tình huống, nó còn khiến ta quan sát sâu hơn.
Dù vậy, mức độ tận hưởng và khả năng ghi nhớ không phải cùng một điều. Trong hai nghiên cứu về hoạt động tham quan bảo tàng, Linda Henkel ghi nhận rằng những người được yêu cầu chụp toàn bộ một hiện vật có thể nhớ ít hiện vật và ít chi tiết hơn so với những người chỉ quan sát. Khi người tham gia được yêu cầu chụp cận cảnh một phần cụ thể, hiện tượng suy giảm trí nhớ ấy không xuất hiện theo cách tương tự. Kết quả cho thấy cách chụp ảnh cũng có thể ảnh hưởng đến những gì được ghi nhớ, nhưng không cho phép kết luận rằng mọi hành động chụp ảnh đều làm trí nhớ kém đi. [Nguồn nghiên cứu]
Hai công trình xem xét những khía cạnh khác nhau của trải nghiệm. Một nghiên cứu quan tâm đến cảm giác thích thú khi sự việc đang diễn ra; nghiên cứu kia tìm hiểu những gì được ghi nhớ sau đó trong một bối cảnh cụ thể. Vì vậy, tôi không thấy lý do để xem chiếc máy ảnh là thứ luôn giúp ta sống sâu sắc hơn, hoặc ngược lại, luôn khiến ta bỏ lỡ cuộc sống.
Đối với tôi, điều quan trọng là mình có còn chủ động trong việc ghi lại hay không. Một vài bức ảnh được chụp vì thật sự muốn lưu giữ điều đang nhìn thấy khác với việc liên tục ghi hình chỉ bởi cảm giác phải có đủ tư liệu. Tôi vẫn muốn giữ những hình ảnh đáng nhớ, nhưng cũng muốn được tự do cất điện thoại đi khi thấy điều đang diễn ra xứng đáng với toàn bộ sự chú ý của mình.
Khi ta nghĩ đến người xem trước cả lúc trải nghiệm kết thúc
Có lẽ sự khác biệt đáng suy nghĩ nhất không nằm ở việc có chụp ảnh hay không, mà ở mục đích của việc chụp. Một người muốn giữ lại hình ảnh cho bản thân có thể tiếp cận khoảnh khắc khác với một người ngay từ đầu đã nghĩ đến việc đăng bức ảnh ấy cho nhiều người xem.
Trong nghiên cứu công bố năm 2018 trên Journal of Consumer Research, Alixandra Barasch, Gal Zauberman và Kristin Diehl thực hiện hai nghiên cứu thực địa cùng ba nghiên cứu trong phòng thí nghiệm về tác động của mục đích chụp ảnh. So với việc chụp để lưu giữ cho bản thân, việc chụp với ý định chia sẻ cho người khác có thể làm giảm mức độ tận hưởng trải nghiệm. Các tác giả chỉ ra rằng khi dự định chia sẻ, người chụp có thể quan tâm nhiều hơn đến cách bản thân được nhìn nhận, từ đó giảm sự tập trung và gắn kết với điều đang diễn ra. Tác động này còn phụ thuộc vào mức độ quan tâm của từng người đối với đánh giá bên ngoài và sự thân thiết của đối tượng dự định chia sẻ. [Nguồn nghiên cứu]
Điểm khiến tôi chú ý là ý định chia sẻ đã có thể ảnh hưởng đến trải nghiệm trước khi bức ảnh được đăng lên. Một người có thể bắt đầu nghĩ đến góc hình, biểu cảm, câu chú thích hoặc phản ứng của người xem trong lúc sự việc vẫn đang diễn ra. Khi ấy, ngoài việc trực tiếp cảm nhận, họ còn phải dành một phần sự chú ý để chuẩn bị cho cách trải nghiệm ấy sẽ xuất hiện trước người khác.
Tôi từng thấy những người quá chú trọng việc chụp ảnh hoặc quay video trong một hoạt động. Nhưng tôi cũng hiểu rằng không thể chỉ nhìn hành động bên ngoài rồi kết luận họ đang tận hưởng ít hay nhiều hơn mình. Có người thật sự yêu nhiếp ảnh, có người làm công việc sáng tạo nội dung, và có người tìm được niềm vui trong việc ghi lại một khoảnh khắc để chia sẻ. Điều khiến tôi băn khoăn không phải số lượng ảnh họ chụp, mà là khả năng mục đích thể hiện đã bắt đầu chi phối điều họ lựa chọn làm.
Một chuyến đi có thể được lên kế hoạch vì điểm đến thật sự hấp dẫn, nhưng cũng có thể vì những hình ảnh người ta hy vọng sẽ tạo ra ở đó. Một cuộc gặp có thể là dịp trò chuyện, đồng thời cũng có thể bị gián đoạn nhiều lần để chuẩn bị hình ảnh đăng tải. Không có ranh giới tuyệt đối giữa hai mục đích ấy; chúng thường tồn tại cùng nhau. Vấn đề chỉ trở nên đáng suy nghĩ khi phần dành cho người xem lấn át nhu cầu và cảm nhận của những người đang trực tiếp có mặt.
Tôi thích chia sẻ niềm vui với những người thân thiết. Nhưng chia sẻ với người thực sự quan tâm đến mình có thể khác với việc trình bày cuộc sống trước một nhóm người rộng lớn. Tôi muốn giữ được sự khác biệt ấy, để một khoảnh khắc không phải chịu quá nhiều áp lực thể hiện ngay từ lúc nó còn chưa kết thúc.
Xây dựng hình ảnh cá nhân không nhất thiết là sống thiếu chân thành
Là người viết và làm công việc liên quan đến truyền thông, tôi không cho rằng xây dựng hình ảnh cá nhân là điều cần né tránh. Mỗi người có quyền lựa chọn cách giới thiệu bản thân, chia sẻ những thành quả đã đạt được, thể hiện quan điểm và cho người khác biết mình đang theo đuổi những giá trị gì. Việc chủ động truyền đạt những điều ấy, nếu được thực hiện đúng mực, có thể giúp tạo dựng sự tin cậy và mở ra những mối quan hệ có ý nghĩa.
Tôi cũng không nghĩ sự chân thành đòi hỏi chúng ta phải công khai toàn bộ cuộc sống. Một người có thể kể về thành quả trong công việc mà không đưa mọi khó khăn riêng tư ra trước công chúng. Họ có thể chia sẻ một trải nghiệm đẹp mà không phải thuật lại từng chi tiết hoặc tiết lộ những điều thuộc về người khác. Lựa chọn điều gì nên kể, kể với ai và vào thời điểm nào là một phần của quyền tự chủ đối với đời sống cá nhân.
Nghiên cứu của Erica Bailey và các cộng sự, công bố năm 2020 trên Nature Communications, cung cấp thêm một góc nhìn về sự chân thực khi thể hiện bản thân trên mạng xã hội. Phân tích dữ liệu của 10.560 người dùng Facebook, nhóm nghiên cứu tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa mức độ thể hiện bản thân phù hợp với tính cách tự đánh giá và sự hài lòng với cuộc sống. Trong một thí nghiệm tiếp theo có quy mô nhỏ hơn, việc đăng nội dung chân thực hơn so với xây dựng hình ảnh lý tưởng hóa có liên quan đến sự cải thiện một số chỉ số cảm xúc và tâm trạng, nhưng không tạo ra khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự hài lòng với cuộc sống. [Nguồn nghiên cứu]
Công trình này nghiên cứu sự phù hợp giữa cách con người thể hiện bản thân và cách họ nhìn nhận chính mình, chứ không trực tiếp xác minh tính đúng sai của từng câu chuyện được đăng tải. Vì vậy, tôi không dùng nó làm bằng chứng cho một kết luận đạo đức rằng ai chân thật hơn thì chắc chắn sống hạnh phúc hơn. Điều nghiên cứu gợi ra là cách một người thể hiện bản thân trên mạng có thể liên quan đến trạng thái tâm lý của họ, và sự chân thực là một yếu tố đáng quan tâm.
Còn về nguyên tắc cá nhân, tôi cho rằng việc xây dựng hình ảnh cần dựa trên những điều có thật. Ta có thể lựa chọn cách kể để người đọc dễ hiểu hơn, nhưng không nên tạo ra một trải nghiệm chưa từng xảy ra. Ta có thể giới thiệu thành quả mình đã đóng góp, nhưng không nên biến kết quả của nhiều người thành công lao riêng. Và khi đưa ra một quan điểm, nhất là về những vấn đề có ảnh hưởng đến người khác, ta cần nghiêm túc với cơ sở của điều mình khẳng định.
Đối với tôi, sống chân thành và xây dựng hình ảnh cá nhân không loại trừ nhau. Điều quan trọng là hình ảnh ấy có phản ánh đúng con người mình và những giá trị mình thực sự theo đuổi hay không. Chúng ta có thể chủ động lựa chọn những gì công khai, nhưng không nên lấy quyền lựa chọn ấy làm lý do để cố tình khiến người khác hiểu sai.
Giữ lại một phần cuộc sống cho riêng mình
Tôi có những trải nghiệm muốn chia sẻ và cũng có những kỷ niệm chỉ muốn giữ riêng. Không phải vì những điều được giữ riêng có giá trị hơn tất cả những điều đã công khai, mà bởi mỗi trải nghiệm có một ý nghĩa và phạm vi phù hợp khác nhau. Có những niềm vui thật sự đẹp khi được nhiều người cùng biết đến; cũng có những khoảnh khắc mà sự riêng tư khiến mình cảm thấy thoải mái và trân trọng hơn.
Đôi khi, một kỷ niệm không chỉ thuộc về một người. Một cuộc trò chuyện, một mối quan hệ hay một trải nghiệm được chia sẻ giữa những người thân thiết còn chứa đựng sự tin tưởng của những người khác. Khi quyết định công khai câu chuyện, ta không chỉ kể về cuộc sống của mình mà còn có thể đưa đời sống của họ ra trước những người vốn không liên quan.
Tôi nghĩ đây là một lý do quan trọng để cân nhắc trước khi biến trải nghiệm thành nội dung. Việc mình có quyền kể về cảm xúc cá nhân không đồng nghĩa với việc mọi chi tiết về người khác đều nên được công bố. Có những câu chuyện vẫn có thể truyền tải ý nghĩa mà không cần tiết lộ danh tính, hoàn cảnh riêng hay những điều người trong cuộc chưa sẵn sàng chia sẻ.
Giữ riêng một phần cuộc sống cũng cho phép chúng ta có những khoảng thời gian không phải nghĩ đến cách mình xuất hiện trước công chúng. Trong những khoảng thời gian ấy, ta có thể vui, buồn, bối rối, thay đổi suy nghĩ hoặc đơn giản là nghỉ ngơi mà không cần biến mọi cảm xúc thành một thông điệp. Tôi từng viết về giá trị của việc ở một mình với suy nghĩ của chính mình. Ở đây, tôi còn muốn giữ một điều khác: quyền có những trải nghiệm không cần được trình bày trước người khác.
Tất nhiên, tôi không cho rằng người kín tiếng mặc nhiên sâu sắc hơn người thường xuyên chia sẻ. Mỗi người có một cách kết nối với thế giới và nhu cầu riêng tư khác nhau. Điều đáng giữ không phải một quy tắc phải đăng ít đi, mà là khả năng quyết định điều gì thật sự đáng chia sẻ và điều gì nên được trân trọng trong phạm vi của những người liên quan.
Sống trước khi quyết định sẽ kể lại điều gì
Công nghệ đã đem đến cho chúng ta khả năng lưu giữ và chia sẻ cuộc sống dễ dàng hơn nhiều so với trước đây. Những bức ảnh, đoạn video và bài viết có thể giúp một người nhìn lại hành trình đã qua, kể chuyện với người ở xa hoặc lưu giữ những ký ức có thể dần phai nhạt theo thời gian. Tôi vẫn xem đó là những giá trị đáng quý và không có lý do gì phải từ bỏ chúng chỉ để chứng minh rằng mình đang sống chân thực.
Tôi sẽ tiếp tục chụp ảnh khi thấy cần, viết về những điều mình cho là có ý nghĩa và chia sẻ niềm vui với những người quan tâm. Nhưng tôi cũng muốn giữ quyền không biến mọi trải nghiệm thành một bài đăng. Có những lúc điều đáng làm nhất là lắng nghe lâu hơn, quan sát kỹ hơn hoặc dành trọn sự chú ý cho người đang ngồi trước mặt.
Đối với người viết, ranh giới này có lẽ càng cần được ý thức. Khi đã quen tìm kiếm chất liệu từ đời sống, ta dễ nhận ra một câu chuyện tiềm năng trong những điều đang diễn ra. Đó có thể là một lợi thế, vì việc viết đôi khi giúp chúng ta suy nghĩ sâu hơn về trải nghiệm. Nhưng không phải mọi chuyện xảy đến đều có nghĩa vụ phải trở thành chất liệu cho một bài viết, nhất là khi việc kể lại có thể ảnh hưởng đến sự riêng tư hoặc sự tin tưởng của người khác.
Tôi không muốn lựa chọn tuyệt đối giữa sống cho mình và chia sẻ với người khác. Hai điều ấy hoàn toàn có thể cùng tồn tại. Ta có thể ghi lại một khoảnh khắc đẹp, tận hưởng nó và sau đó kể lại một cách chân thành; cũng có thể giữ một kỷ niệm cho riêng mình mà không cảm thấy đã bỏ lỡ cơ hội được công nhận.
Điều tôi muốn tránh là để nhu cầu thể hiện quyết định trước cách mình sống. Một bài viết có thể được hoàn thiện sau khi trải nghiệm kết thúc, một bức ảnh có thể được chọn để chia sẻ vào một thời điểm khác. Còn những gì đang diễn ra trước mắt không phải lúc nào cũng có thể trở lại nguyên vẹn chỉ vì ta muốn dành cho chúng thêm sự chú ý.
Tôi vẫn muốn có những trải nghiệm đủ đẹp để kể lại, nhưng cũng muốn giữ những khoảnh khắc đáng quý mà mình không cần kể với bất kỳ ai. Bởi trước khi trở thành một câu chuyện được người khác nhìn thấy, cuộc sống ấy trước hết phải là điều chính mình thực sự trải qua.
Nguồn tham khảo
-
Diehl, K., Zauberman, G., & Barasch, A. (2016).
How Taking Photos Increases Enjoyment of Experiences.
Journal of Personality and Social Psychology, 111(2), 119–140.
Xem nghiên cứu. -
Henkel, L. A. (2014).
Point-and-Shoot Memories: The Influence of Taking Photos on Memory for a Museum Tour.
Psychological Science, 25(2), 396–402.
Xem nghiên cứu. -
Barasch, A., Zauberman, G., & Diehl, K. (2018).
How the Intention to Share Can Undermine Enjoyment: Photo-Taking Goals and Evaluation of Experiences.
Journal of Consumer Research, 44(6), 1220–1237.
Xem nghiên cứu. -
Bailey, E. R., Matz, S. C., Youyou, W., & Iyengar, S. S. (2020).
Authentic Self-Expression on Social Media Is Associated With Greater Subjective Well-Being.
Nature Communications, 11, Article 4889.
Xem nghiên cứu.
