Vì sao nói “tôi chưa biết” lại khó đến vậy?

Có ba chữ tưởng như rất đơn giản nhưng đôi khi lại khó nói hơn một câu trả lời dài: “Tôi chưa biết.” Trong công việc, tôi từng nói thẳng điều đó khi gặp một vấn đề mình chưa hiểu đủ. Tôi có thể nói rằng mình chưa biết, cần tìm hiểu thêm rồi mới […]

Có ba chữ tưởng như rất đơn giản nhưng đôi khi lại khó nói hơn một câu trả lời dài: “Tôi chưa biết.” Trong công việc, tôi từng nói thẳng điều đó khi gặp một vấn đề mình chưa hiểu đủ. Tôi có thể nói rằng mình chưa biết, cần tìm hiểu thêm rồi mới trả lời, thay vì cố đưa ra một kết luận chỉ để chứng tỏ rằng mình có câu trả lời.

Phản ứng của mọi người không phải lúc nào cũng giống nhau. Có người đánh giá cao sự thẳng thắn ấy và có lẽ tin mình hơn. Người vốn không thích mình lại có thể coi chính sự thừa nhận đó là bằng chứng rằng mình thiếu năng lực. Tôi chấp nhận sự phân hóa ấy, bởi nếu phải lựa chọn giữa việc trông có vẻ biết mọi thứ và việc nói đúng giới hạn của điều mình thực sự biết, tôi muốn chọn vế thứ hai.

Với tôi, xây dựng một hình ảnh nghiêm túc không có nghĩa là lúc nào cũng phải có đáp án. Nó có nghĩa là sẵn sàng chịu trách nhiệm với những gì mình khẳng định, biết khi nào mình đủ cơ sở để kết luận và khi nào cần nói rằng mình chưa biết.

Nhưng nếu không biết là một trạng thái hoàn toàn bình thường của con người, tại sao việc thừa nhận nó đôi khi lại khó đến vậy?

Không biết không đồng nghĩa với kém năng lực

Có lẽ một nguyên nhân khá rõ là chúng ta dễ gắn việc không biết với việc kém cỏi. Một người đang giữ vị trí quản lý có thể cảm thấy mình phải biết câu trả lời. Một người được xem là có chuyên môn có thể lo rằng câu “tôi chưa rõ” sẽ làm giảm uy tín. Trong một cuộc tranh luận, thừa nhận mình thiếu dữ kiện đôi khi còn có cảm giác như vừa nhường phần thắng cho đối phương.

Nhưng kiến thức vốn có giới hạn, kể cả trong lĩnh vực một người đã làm lâu năm. Nghiên cứu của Matthew Fisher và Frank Keil về hiện tượng “curse of expertise” cho thấy chuyên môn có thể làm tăng sự tự tin vào khả năng giải thích một hiện tượng, nhưng khi người tham gia thực sự phải đưa ra lời giải thích đầy đủ, họ mới nhận ra những giới hạn trong hiểu biết của mình. Nghiên cứu ấy không nói rằng chuyên gia nói chung đánh giá sai năng lực của bản thân; nó cho thấy chuyên môn cũng không khiến một người miễn nhiễm với việc đánh giá quá cao mức độ mình thực sự hiểu một vấn đề. [Nguồn nghiên cứu]

Tôi thấy điểm này đáng suy nghĩ vì nó đảo ngược một giả định khá quen thuộc. Biết nhiều hơn không nhất thiết khiến câu “tôi chưa biết” trở nên dễ nói hơn. Đôi khi chính cảm giác “đây là lĩnh vực của tôi” lại khiến việc thừa nhận một khoảng trống trở nên khó khăn, bởi lúc đó thứ bị đe dọa không chỉ là một câu trả lời mà còn là hình ảnh ta có về chính năng lực của mình.

Nếu nhìn như vậy, thừa nhận giới hạn không phải phủ nhận năng lực. Trong nhiều trường hợp, nó chỉ là mô tả chính xác vị trí hiện tại của mình trước một câu hỏi.

“Tôi chưa biết” chỉ có giá trị nếu sau đó là “để tôi tìm hiểu”

Dĩ nhiên, tôi cũng không muốn biến sự thiếu hiểu biết thành một phẩm chất để tự hào. Nếu một việc thuộc trách nhiệm của mình mà mình chỉ nói “tôi không biết” rồi dừng ở đó, câu nói ấy chẳng có gì đáng khen. Điều quan trọng với tôi nằm ở phần sau: tôi chưa biết, nhưng tôi sẽ tìm hiểu.

Tôi từng khá chắc rằng mình đúng rồi sau đó nhận ra mình thiếu dữ kiện, đánh giá sai hoặc hoàn cảnh đã thay đổi. Khi chuyện ấy xảy ra, tôi không thấy có lý do gì phải bảo vệ một kết luận chỉ vì trước đây chính mình đã đưa ra nó. Tôi có thể chấp nhận sai, cập nhật cách hiểu theo thông tin mới rồi bước tiếp.

Một nhóm nghiên cứu do Mark Leary dẫn đầu gọi một phần năng lực này là “intellectual humility”, có thể hiểu là khiêm tốn trí tuệ: nhận ra rằng niềm tin của mình có khả năng sai. Qua bốn nghiên cứu, những người có mức khiêm tốn trí tuệ cao hơn thể hiện nhiều đặc điểm liên quan tới sự cởi mở, tò mò và dung nạp sự mơ hồ hơn, đồng thời nhạy hơn với sức mạnh thực sự của một lập luận. Điều đó không khiến họ tự động đúng, nhưng nó cho thấy việc thừa nhận khả năng mình sai không đồng nghĩa với việc thiếu tư duy. [Nguồn nghiên cứu]

Tôi đặc biệt thích sự phân biệt này. Khả năng thay đổi kết luận khi bằng chứng thay đổi không phải thiếu lập trường. Một lập trường nghiêm túc phải có lý do để tồn tại; nếu dữ kiện thay đổi đủ mạnh mà kết luận vẫn không được phép thay đổi, thứ mình đang bảo vệ có thể không còn là sự thật nữa mà là hình ảnh của chính mình.

Khi cái tôi bị buộc vào một ý kiến

Một quan điểm mới chỉ là giả thuyết thì khá dễ sửa. Nhưng sau khi ta đã phát biểu công khai, tranh luận rất lâu, thuyết phục người khác tin theo hoặc xây dựng hình ảnh chuyên môn quanh quan điểm ấy, chi phí tâm lý của việc thay đổi thường lớn hơn.

Khi đó, sửa một kết luận có thể bị cảm nhận như sửa chính con người mình. Ta không còn chỉ bảo vệ mệnh đề “A đúng”, mà bắt đầu bảo vệ hình ảnh “tôi là người đã nói A đúng”. Càng đầu tư nhiều danh dự, thời gian và cảm xúc vào một quan điểm, việc thừa nhận nó có vấn đề càng dễ trở thành một cuộc đấu với cái tôi.

Tôi nghĩ đây là lúc trách nhiệm quan trọng hơn sĩ diện. Nếu điều tôi từng tin là đúng hóa ra sai, việc tiếp tục bảo vệ nó không thể làm cho quá khứ đúng trở lại. Tôi có thể giải thích mình đã dựa vào đâu để đưa ra kết luận trước đây, thừa nhận dữ kiện mới làm thay đổi đánh giá của mình và chịu trách nhiệm về sự thay đổi đó.

Tôi muốn người khác thấy lời mình nói có trọng lượng hơn là thấy mình không bao giờ thay đổi. Hai hình ảnh ấy rất khác nhau. Một người đáng tin không phải vì họ chưa từng sai, mà bởi ta có cơ sở để tin rằng khi phát hiện mình sai, họ sẽ không tiếp tục nói điều cũ chỉ để bảo vệ thể diện.

Có một câu trả lời trước mặt không có nghĩa là mình đã hiểu

Trong thời đại hiện nay, việc nói “tôi chưa biết” còn gặp một trở ngại khá thú vị: câu trả lời gần như luôn ở rất gần. Ta có thể tìm kiếm trên Internet trong vài giây, đọc một bản tóm tắt hoặc hỏi một hệ thống AI và nhận lại một câu trả lời trôi chảy gần như ngay lập tức. Tôi sử dụng những công cụ ấy rất nhiều và coi khả năng tiếp cận thông tin nhanh là một lợi thế lớn.

Nhưng tìm được một câu trả lời và thực sự hiểu nó là hai chuyện khác nhau. Trong một nghiên cứu gồm chín thí nghiệm, Fisher, Goddu và Keil phát hiện rằng việc tìm kiếm lời giải thích trên Internet có thể làm tăng mức độ người tham gia tự đánh giá kiến thức của chính mình. Các tác giả mô tả hiện tượng đó như một sự nhầm lẫn giữa khả năng truy cập thông tin bên ngoài với kiến thức thực sự nằm “trong đầu” người sử dụng. [Nguồn nghiên cứu]

Tôi không đọc kết quả ấy theo hướng “Internet khiến con người tưởng mình thông minh hơn”. Cách nói đó quá đơn giản và cũng không công bằng với giá trị của công cụ. Điều đáng chú ý hơn với tôi là ngày nay ta càng cần giữ rõ ranh giới giữa ba trạng thái: tôi biết, tôi biết cách tìm, và tôi vừa tìm được một câu trả lời.

Cả ba đều hữu ích, nhưng chúng không phải một. Một người biết cách tìm đúng nguồn có thể làm việc rất hiệu quả dù chưa ghi nhớ mọi thứ. Một người vừa nhận được câu trả lời từ AI cũng có thể sử dụng nó tốt nếu biết kiểm tra, đối chiếu và hiểu giới hạn của nó. Vấn đề chỉ bắt đầu khi ta biến khả năng truy cập thành cảm giác rằng kiến thức ấy đã hoàn toàn trở thành kiến thức của mình. Đây cũng là lý do tôi cho rằng AI càng mạnh thì tư duy phản biện của người sử dụng càng quan trọng.

Sự chắc chắn thường dễ gây ấn tượng hơn sự dè dặt

Có một bất lợi khá thực tế của câu “tôi chưa biết”: nó không tạo ra cảm giác mạnh. Một người nói rất nhanh, rất chắc và rất dứt khoát thường nghe có vẻ thuyết phục hơn một người nói rằng theo dữ kiện hiện tại họ nghiêng về phương án này nhưng vẫn còn một số điểm cần kiểm tra.

Câu thứ hai đôi khi chính xác hơn về mức độ hiểu biết thực tế, nhưng câu thứ nhất dễ tạo ấn tượng về năng lực hơn. Trong môi trường công việc, truyền thông hay mạng xã hội, sự dứt khoát còn có lợi thế về mặt trình bày: một khẳng định chắc nịch dễ nhớ hơn một kết luận có điều kiện.

Tôi hiểu vì sao con người muốn sự chắc chắn. Ta muốn một nhà quản lý biết mình đang đưa tổ chức đi đâu, một chuyên gia có khả năng đưa ra đánh giá và một người chịu trách nhiệm có đủ quyết đoán để hành động. Tôi cũng coi khả năng quyết định là điều quan trọng.

Nhưng có một khoảng cách rất lớn giữa dứt khoát sau khi đã có đủ cơ sở và tỏ ra chắc chắn để che việc mình chưa có đủ cơ sở. Một người hoàn toàn có thể quyết đoán trong những điều mình đã kiểm tra, đồng thời thẳng thắn về những phần mình chưa biết. Hai phẩm chất ấy không loại trừ nhau.

Khiêm tốn trí tuệ không có nghĩa mọi ý kiến đều ngang nhau

Nếu nói quá nhiều về khả năng mình sai, ta cũng có thể rơi sang cực đoan khác: nghĩ rằng không có điều gì đủ chắc chắn và mọi ý kiến đều đáng được coi ngang nhau. Tôi không nghĩ đó là khiêm tốn trí tuệ.

Có dữ kiện được kiểm chứng tốt hơn dữ kiện khác. Có người thực sự hiểu một vấn đề sâu hơn. Có lập luận mạnh hơn, bằng chứng đáng tin hơn và những kết luận có xác suất đúng cao hơn. Thừa nhận khả năng mình sai không có nghĩa phải từ bỏ việc đánh giá chất lượng của bằng chứng.

Một nghiên cứu năm 2024 gồm hai nghiên cứu với tổng cộng 884 người tham gia xem xét vai trò của khiêm tốn trí tuệ trong việc sửa các niềm tin sai. Trong số những người đang giữ các niềm tin sai về rủi ro vaccine hoặc cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020, những người có mức khiêm tốn trí tuệ cao hơn tìm hiểu nhiều thông tin phản bác niềm tin của mình hơn; hành vi tìm hiểu đó lại liên quan tới việc cập nhật niềm tin sau đó. Tuy nhiên, khiêm tốn trí tuệ không trực tiếp dự báo việc sửa niềm tin, nên chính các tác giả cũng đưa ra kết luận khá dè dặt về sức mạnh của mối liên hệ này. [Nguồn nghiên cứu]

Tôi thấy sự dè dặt ấy rất phù hợp với chính chủ đề này. Ngay cả một nghiên cứu về khiêm tốn trí tuệ cũng không cho ta quyền kết luận rằng người khiêm tốn hơn thì mặc nhiên đúng hơn. Giá trị của việc biết mình có thể sai không nằm ở chỗ nó ban cho ta một dạng ưu thế đạo đức hay trí tuệ, mà ở chỗ nó giữ cánh cửa kiểm tra lại luôn mở.

Uy tín không nằm ở việc không bao giờ sai

Trong trải nghiệm của mình, việc nói thẳng rằng tôi chưa biết thực sự tạo ra sự phân hóa. Có người mến hơn vì họ thấy mình không nói quá những gì mình biết. Có người vốn đã không thích mình thì chính câu đó cũng có thể được dùng như một lý do để đánh giá thấp hơn. Tôi không kiểm soát được cách cả hai nhóm nhìn mình, và cũng không muốn dùng một câu trả lời giả để kiểm soát điều đó.

Điều tôi có thể kiểm soát là tiêu chuẩn của mình. Nếu chưa biết, tôi tìm hiểu. Nếu chưa đủ dữ liệu, tôi chưa vội kết luận. Nếu phát hiện mình sai, tôi sửa. Và nếu đã đưa ra một đánh giá hay quyết định, tôi phải chịu trách nhiệm với cơ sở khiến mình đưa ra nó.

Với tôi, đó mới là hình ảnh nghiêm túc mà mình muốn xây dựng. Không phải hình ảnh một người lúc nào cũng có câu trả lời, mà là một người phân biệt được điều mình biết với điều mình chưa biết, không dùng sự chắc chắn giả để lấp khoảng trống và sẵn sàng thay đổi khi thực tế cho thấy mình cần thay đổi.

Có lẽ điều khó nhất vì thế không phải nói ba chữ “tôi chưa biết”. Điều khó hơn là tách kiến thức khỏi cái tôi đủ xa để một dữ kiện mới có thể làm thay đổi kết luận mà mình không cảm thấy giá trị của bản thân cũng vì thế mà giảm đi.

“Tôi chưa biết” có thể là điểm bắt đầu của một câu trả lời tốt hơn

Ngày càng có nhiều thứ tôi có thể tìm hiểu nhanh hơn trước. Công cụ mạnh hơn, nguồn thông tin phong phú hơn và một câu hỏi từng cần hàng giờ để có được định hướng ban đầu giờ có thể nhận được câu trả lời trong vài giây. Tôi coi đó là một lợi thế rất lớn, nhưng chính vì thế tôi càng muốn giữ ranh giới giữa việc có một câu trả lời trước mặt và việc hiểu nó đủ sâu để chịu trách nhiệm khi sử dụng.

Tôi không muốn biến “tôi chưa biết” thành một câu cửa miệng để né trách nhiệm. Tôi cũng không muốn biến sự dè dặt thành lý do để không bao giờ quyết định. Nguyên tắc tôi muốn giữ đơn giản hơn: chỉ khẳng định mạnh đến mức bằng chứng cho phép, và chịu trách nhiệm cho phần mình đã khẳng định.

Nếu hôm nay chưa đủ dữ kiện, ta có thể tìm thêm. Nếu nhận ra mình đã sai, ta có thể sửa và bước tiếp. Một kết luận thay đổi vì hiểu biết tốt hơn không nhất thiết làm uy tín của một người nhỏ đi; đôi khi chính cách họ sửa sai mới cho thấy uy tín ấy được xây trên thứ gì.

Vì vậy, với tôi, “tôi chưa biết” không phải kết thúc của một cuộc trao đổi. Nó có thể là điểm bắt đầu của một câu trả lời tốt hơn.

Nguồn tham khảo

  • Fisher, M. & Keil, F. C. (2016).
    The Curse of Expertise: When More Knowledge Leads to Miscalibrated Explanatory Insight.
    Cognitive Science, 40(5), 1251–1269.
    Xem nghiên cứu.
  • Leary, M. R. và cộng sự (2017).
    Cognitive and Interpersonal Features of Intellectual Humility.
    Personality and Social Psychology Bulletin, 43(6), 793–813.
    Xem nghiên cứu.
  • Fisher, M., Goddu, M. K. & Keil, F. C. (2015).
    Searching for explanations: How the Internet inflates estimates of internal knowledge.
    Journal of Experimental Psychology: General, 144(3), 674–687.
    Xem nghiên cứu.
  • Gollwitzer, A., Bao, E. & Oettingen, G. (2024).
    Intellectual humility as a tool to combat false beliefs: An individual-based approach to belief revision.
    British Journal of Social Psychology, 63(3), 1450–1478.
    Xem nghiên cứu.
Nguyễn Minh Quân
Về tác giả

Nguyễn Minh Quân

Tác giả · Chuyên gia truyền thông · Giáo dục. Tôi viết về lựa chọn, trách nhiệm, kỷ luật, danh dự và những trải nghiệm đáng suy ngẫm trên hành trình kiến tạo một cuộc đời đáng sống.

Bìa sách Kiến tạo một cuộc đời đáng sống của Nguyễn Minh Quân
CHÍNH THỨC PHÁT HÀNH
Kiến tạo một cuộc đời đáng sống
Không phải làm sao để thành công, mà là làm sao để sống một đời đáng sống.


KHÁM PHÁ CUỐN SÁCH