Marketing số không bắt đầu bằng quảng cáo
Một quảng cáo có thể đang làm rất tốt công việc của nó nhưng bài toán marketing vẫn có vấn đề. Quảng cáo có thể tiếp cận đúng nhóm người. Hình ảnh đủ hấp dẫn. Nội dung khiến người xem dừng lại. Tỷ lệ nhấp tốt. Chi phí cho một lượt đăng ký thậm chí […]
Một quảng cáo có thể đang làm rất tốt công việc của nó nhưng bài toán marketing vẫn có vấn đề.
Quảng cáo có thể tiếp cận đúng nhóm người. Hình ảnh đủ hấp dẫn. Nội dung khiến người xem dừng lại. Tỷ lệ nhấp tốt. Chi phí cho một lượt đăng ký thậm chí nằm trong mức doanh nghiệp mong muốn.
Nhưng rồi điều gì xảy ra sau cú nhấp chuột ấy?
Người dùng có hiểu sản phẩm không? Họ có tìm thấy điều mình đang quan tâm không? Trải nghiệm đăng ký có thuận tiện không? Lời hứa trên quảng cáo có khớp với điều họ nhận được sau đó không? Người đã để lại thông tin có trở thành khách hàng không? Người đã mua có tiếp tục sử dụng không? Và nếu họ rời đi, nguyên nhân thực sự nằm ở quảng cáo hay ở một đoạn khác của hành trình?
Những câu hỏi ấy khiến tôi ngày càng nhìn marketing số rộng hơn câu hỏi quen thuộc: “Chạy quảng cáo ở đâu?”. Facebook hay Google? TikTok hay YouTube? Ngân sách bao nhiêu? Tối ưu lượt nhấp, lượt xem hay khách hàng tiềm năng?
Đó đều là những câu hỏi cần thiết. Nhưng chúng chỉ nằm ở một phần của bài toán.
Marketing số không bắt đầu bằng quảng cáo. Nó bắt đầu bằng việc hiểu mình đang tạo ra giá trị cho ai, người đó đi qua hành trình nào và điều gì khiến họ tiếp tục hoặc rời bỏ hành trình ấy.
Quảng cáo có thể mở rộng khả năng tiếp cận, tạo nhu cầu, đưa nhiều người hơn vào hành trình và giúp doanh nghiệp học nhanh hơn. Nhưng nó không thể thay thế toàn bộ những gì xảy ra trước và sau thời điểm một người nhìn thấy quảng cáo.
Khi marketing số bị thu nhỏ thành việc “chạy Ads”
Có một lý do khiến quảng cáo thường trở thành phần dễ nhìn thấy nhất của marketing số: nó rất cụ thể. Doanh nghiệp bỏ vào một khoản ngân sách; nền tảng trả lại lượt hiển thị, lượt tiếp cận, lượt nhấp, khách hàng tiềm năng, chuyển đổi và hàng loạt chỉ số khác. Có thể tăng ngân sách, giảm ngân sách, thay hình ảnh, đổi nhóm đối tượng, thử một thông điệp khác và tương đối nhanh chóng nhìn thấy phản ứng.
So với những vấn đề khó định lượng hơn như định vị, trải nghiệm, niềm tin, sự phù hợp của sản phẩm hay khả năng giữ chân khách hàng, quảng cáo tạo cảm giác rằng marketing là một cỗ máy có thể điều khiển khá trực tiếp. Bởi vậy, khi kết quả kinh doanh chưa như mong muốn, phản ứng tự nhiên thường là nghĩ tới việc “đẩy marketing mạnh hơn”, rồi nhanh chóng dịch điều đó thành “chạy thêm quảng cáo”.
Nhưng nếu chưa biết điểm nghẽn thực sự nằm ở đâu, tăng quảng cáo có thể chỉ đưa nhiều người hơn tới cùng một điểm nghẽn.
Nếu một trang đích không giải thích được lý do khách hàng nên lựa chọn sản phẩm, thêm lượt truy cập chưa chắc giải quyết được vấn đề. Nếu quá trình đăng ký quá phức tạp, việc mua thêm lượt nhấp chỉ làm nhiều người hơn gặp sự phức tạp ấy. Nếu quảng cáo tạo kỳ vọng cao hơn trải nghiệm thực, tăng ngân sách có thể đồng nghĩa với việc tăng tốc khoảng cách giữa lời hứa và thực tế.
Đây không phải lý do để ngừng quảng cáo. Nó là lý do để đặt quảng cáo trở lại đúng vị trí của nó trong một hệ thống lớn hơn.
Sau cú nhấp chuột, hành trình khách hàng mới lộ ra đầy đủ hơn
Một trong những khác biệt quan trọng giữa nhìn quảng cáo và nhìn marketing là độ dài của hành trình. Quảng cáo thường tập trung nhiều vào thời điểm trước và tại hành động chuyển đổi: làm thế nào để người phù hợp nhìn thấy thông điệp, chú ý, nhấp chuột, để lại thông tin hoặc mua hàng. Marketing phải nhìn tiếp.
Một người có thể biết tới thương hiệu qua Facebook nhưng sau đó tìm Google để kiểm tra. Họ có thể vào website, đọc đánh giá, hỏi một người quen, xem TikTok, nhắn fanpage, rời đi vài ngày rồi quay lại. Sau khi mua, họ còn trải qua sản phẩm, nhân viên, quy trình, chăm sóc sau bán hàng và nhiều điểm chạm khác mà quảng cáo không trực tiếp kiểm soát.
Nghiên cứu của Katherine N. Lemon và Peter C. Verhoef đăng trên Journal of Marketing năm 2016 nhấn mạnh rằng trải nghiệm khách hàng được hình thành theo thời gian qua nhiều điểm chạm, nhiều kênh và nhiều loại phương tiện; việc tạo ra trải nghiệm tích cực vì thế đòi hỏi sự phối hợp của nhiều chức năng trong doanh nghiệp, chứ không chỉ một kênh riêng lẻ. Nghiên cứu này cũng đặt customer journey trong bối cảnh hành vi khách hàng ngày càng phức tạp.
Cách nhìn ấy đặc biệt quan trọng trong môi trường số. Digital không nhất thiết làm hành trình khách hàng đơn giản hơn. Người dùng có nhiều lựa chọn hơn, nhiều nguồn để đối chiếu hơn, dễ rời đi hơn và cũng dễ quay lại từ một điểm chạm hoàn toàn khác. Một lượt nhấp vì thế chưa kể hết được câu chuyện.
Mua được lượt tiếp cận không đồng nghĩa với việc đã xây được một hành trình khách hàng.
Từ nội dung về sản phẩm số đến câu hỏi về trải nghiệm khách hàng
Nhìn lại chặng đường nghề nghiệp, những câu hỏi về trải nghiệm khách hàng đã xuất hiện khá sớm trong công việc của tôi, ngay từ giai đoạn nội dung và truyền thông.
Trong quãng thời gian làm công việc biên tập nội dung tại SHB NEWS, những đề tài tôi thực hiện đã đưa tôi tới các sản phẩm ngân hàng số và trải nghiệm sử dụng chúng. Năm 2019, bài “Thẻ thanh toán SHB – Những trải nghiệm bất ngờ!” mang byline “MINH QUÂN” đi vào các sản phẩm thẻ, thanh toán trên thiết bị di động và trải nghiệm sử dụng. Cùng năm, bài “Ngân hàng điện tử SHB: Đa tiện ích, bảo mật cao” tiếp tục đặt sự thuận tiện, an toàn và nhu cầu của khách hàng trong câu chuyện về dịch vụ ngân hàng điện tử.
Vai trò editorial buộc người viết phải đi đủ sâu vào sản phẩm để hiểu điều mình đang truyền đạt. Một thông điệp nói về “tiện lợi” chỉ thực sự có ý nghĩa khi người dùng cảm thấy thuận tiện trong lúc sử dụng. Một nội dung nói về “nhanh chóng” cuối cùng phải được kiểm chứng bởi tốc độ thật. Lời hứa về trải nghiệm không thể tồn tại độc lập trên trang viết; nó phải gặp sản phẩm ở phía sau.
Đến chặng đường tại BIDV, mối liên hệ giữa công nghệ, chuyển đổi số và trải nghiệm khách hàng càng trở nên rõ hơn với tôi. Tháng 5/2022, trong Bản tin Đầu tư Phát triển của BIDV, tôi có bài viết mang byline “MINH QUÂN” với tiêu đề “Tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng – Điều bắt buộc không thể đảo ngược”. Bài viết đặt trải nghiệm khách hàng trong bối cảnh chuyển đổi số ngân hàng, nơi công nghệ, quy trình và cách người dùng thực sự sử dụng dịch vụ cùng tham gia tạo nên trải nghiệm.
Điều đáng nhớ với tôi không nằm ở việc một bài báo mang chủ đề customer experience, mà ở sự thay đổi của câu hỏi. Thay vì chỉ hỏi “chúng ta sẽ truyền thông sản phẩm số này thế nào?”, câu hỏi rộng hơn trở thành “khách hàng thực sự đang trải nghiệm sản phẩm ấy thế nào?”.
Đó là một thay đổi nhỏ về ngôn ngữ nhưng lớn về tư duy. Khi nói Digital Marketing, chữ “digital” rất dễ khiến chúng ta nghĩ trước tiên tới những nơi truyền thông diễn ra: mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, email, website, ứng dụng hay nền tảng quảng cáo. Nhưng ở một tầng sâu hơn, digital còn thay đổi cách sản phẩm được tạo ra, cách dữ liệu được ghi nhận, cách doanh nghiệp hiểu khách hàng, cách người dùng tương tác với tổ chức và cách các bộ phận bên trong phối hợp với nhau.
Trong những năm tiếp theo, các nội dung tôi tham gia thực hiện tại BIDV tiếp tục chạm tới chuyển đổi số, dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng công nghệ và những thay đổi trong cách một ngân hàng vận hành trong môi trường số. Chuỗi trải nghiệm đó củng cố một nhận thức đối với tôi: marketing số không nên được hiểu đơn giản là đưa hoạt động quảng cáo lên các nền tảng số.
Thu hút khách hàng mới rất quan trọng, nhưng không phải toàn bộ marketing
Một sản phẩm tốt mà không ai biết tới vẫn có thể thất bại. Một thương hiệu có trải nghiệm tốt nhưng không đưa được đủ khách hàng mới vào hành trình sẽ gặp giới hạn tăng trưởng. Vì vậy, thu hút khách hàng mới, mở rộng độ phủ, xây dựng nhận biết và tạo chuyển đổi đầu vào là những nhiệm vụ hoàn toàn chính đáng của marketing.
Vấn đề xuất hiện khi doanh nghiệp coi acquisition, tức thu hút khách hàng mới, là toàn bộ marketing.
Giả sử một chiến dịch đang tạo ra lượng khách hàng tiềm năng khá tốt nhưng tỷ lệ mua thấp. Có thể nhóm khách hàng được thu hút chưa phù hợp, khi đó đối tượng, nội dung quảng cáo, thông điệp hoặc đề nghị bán hàng cần được xem lại. Nhưng cũng có thể khách hàng hoàn toàn phù hợp, chỉ có điều hành trình phía sau đang có vấn đề: phản hồi quá chậm, tư vấn không giải quyết được băn khoăn, quy trình mua phức tạp, mức giá khác kỳ vọng hoặc trải nghiệm chưa đủ thuyết phục.
Nếu chỉ nhìn chi phí cho một khách hàng tiềm năng, hai trường hợp có thể trông giống nhau. Nhưng giải pháp hoàn toàn khác nhau.
Tương tự, doanh nghiệp có thể liên tục thu hút khách hàng mới nhưng mất họ rất nhanh. Khi đó, câu hỏi không chỉ là “làm thế nào có thêm khách hàng?”, mà còn phải là:
Tại sao những người đã tới lại không tiếp tục?
Khả năng duy trì khách hàng vì thế không phải một câu chuyện hoàn toàn tách khỏi marketing. Nó là một nguồn thông tin về chất lượng của lời hứa, sự phù hợp của khách hàng được thu hút và trải nghiệm mà doanh nghiệp thực sự tạo ra.
Tất nhiên, khách hàng có thể rời đi vì hoàn cảnh cá nhân, tài chính, thay đổi nhu cầu, địa điểm hoặc một lựa chọn khác phù hợp hơn. Tỷ lệ giữ chân thấp không tự động chứng minh marketing kém. Nhưng khi một nguyên nhân lặp lại đủ nhiều, nó trở thành tín hiệu mà marketing cần lắng nghe: quảng cáo có đang thu hút sai người không, lời hứa có tạo kỳ vọng lệch không, trải nghiệm ban đầu có vấn đề không, hay khách hàng chưa nhìn thấy đầy đủ giá trị mình nhận được?
Thương hiệu không chỉ được xây ở thời điểm khách hàng nhìn thấy một quảng cáo. Nó được xây khi điều quảng cáo nói gặp điều khách hàng trải nghiệm.
Khi trực tiếp vận hành một tổ chức, marketing không còn dừng ở dashboard
Khi trực tiếp xây dựng và vận hành The Good King, một tổ chức giáo dục nhỏ, tôi càng nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa thu hút khách hàng và trải nghiệm phía sau.
Một quảng cáo có thể khiến phụ huynh gửi tin nhắn. Một bài viết có thể đưa họ vào website. Một video có thể khiến họ tò mò. Một biểu mẫu có thể tạo ra đăng ký học thử. Nhưng từ lúc phụ huynh để lại thông tin tới khi một học sinh thực sự gắn bó còn có nhiều điểm chạm: cách trung tâm phản hồi, kỳ vọng ban đầu, việc xếp lớp, trải nghiệm học thử, tương tác với giáo viên, mức độ phù hợp của chương trình, lịch học và cách những vấn đề phát sinh được xử lý.
Đứng ở vị trí người vận hành, tôi không thể coi các điểm chạm ấy là chuyện xảy ra “sau marketing”. Chính chúng giúp trả lời xem lời hứa ban đầu có được thực hiện hay không và khách hàng có nhìn thấy giá trị mà tổ chức muốn tạo ra hay không.
Bởi vậy, acquisition và retention cần được đọc cạnh nhau. Nếu nhiều người nhìn quảng cáo nhưng ít người quan tâm, cần xem lại đầu vào. Nếu nhiều người quan tâm nhưng hành trình bị đứt ở một bước cụ thể, cần tìm đúng điểm nghẽn. Nếu khách hàng mới vẫn đến nhưng trải nghiệm phía sau chưa khiến họ muốn tiếp tục, tăng ngân sách quảng cáo không phải câu trả lời duy nhất và đôi khi cũng không phải câu trả lời quan trọng nhất.
Đây là lúc dữ liệu marketing trở nên có ý nghĩa hơn một bảng thành tích quảng cáo. Mục tiêu không chỉ là tìm một con số đẹp, mà là tìm nơi hệ thống đang tạo ra hoặc làm thất thoát giá trị.
Marketing không kết thúc khi khách hàng chuyển đổi
Trong nhiều dashboard quảng cáo, conversion thường là điểm kết thúc đẹp nhất: khách hàng đã mua, biểu mẫu đã được gửi, ứng dụng đã được cài hoặc đăng ký đã hoàn tất. Nhưng nhìn từ phía khách hàng, đó có thể chỉ là đầu một giai đoạn mới.
Sau chuyển đổi là sử dụng. Sau sử dụng là đánh giá. Sau đánh giá là tiếp tục, rời bỏ hoặc giới thiệu cho người khác. Nếu marketing chỉ tối ưu tới thời điểm bán được hàng mà không quan tâm điều xảy ra sau đó, tổ chức đang nhìn một hành trình dài bằng một cửa sổ rất ngắn.
Điều này không có nghĩa bộ phận marketing phải sở hữu toàn bộ trải nghiệm khách hàng. Không một bộ phận nào một mình làm được điều đó. Một lời hứa thương hiệu có thể do marketing đưa ra nhưng sản phẩm phải thực hiện nó, công nghệ phải hỗ trợ nó, vận hành phải duy trì nó, nhân viên tuyến đầu phải thể hiện nó và chăm sóc khách hàng phải xử lý khi trải nghiệm bị đứt gãy.
Chính vì vậy, trải nghiệm khách hàng là một trong những nơi marketing buộc phải nhìn xuyên qua ranh giới phòng ban. Cách tiếp cận này cũng phù hợp với nghiên cứu của Lemon và Verhoef: customer experience được tạo nên qua nhiều điểm chạm và đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều chức năng trong doanh nghiệp.
Quảng cáo không phải “kẻ xấu”; nó còn là một công cụ để học
Nói marketing số không bắt đầu bằng quảng cáo không có nghĩa doanh nghiệp phải hoàn thiện mọi thứ rồi mới được chạy quảng cáo. Một hệ thống thực tế gần như không bao giờ hoàn hảo, và doanh nghiệp hiếm khi có đủ thông tin trước khi thực sự tiếp xúc với thị trường.
Một sản phẩm mới có thể cần quảng cáo để kiểm nghiệm phản ứng của khách hàng đối với một đề nghị. Một thương hiệu mới cần tạo nhận biết. Quảng cáo trả phí có thể giúp thử thông điệp, thử nhóm đối tượng, quan sát nhu cầu và tạo dữ liệu nhanh hơn nhiều so với việc ngồi trong phòng rồi tự đoán thị trường nghĩ gì.
Quảng cáo thậm chí có thể giúp doanh nghiệp phát hiện giả định ban đầu của mình sai. Đó là một giá trị rất lớn.
Vì vậy, cách tiếp cận hợp lý không phải “hoàn thiện toàn bộ hệ thống rồi mới quảng cáo”, mà là:
Biết mình đang dùng quảng cáo để làm gì và biết nhìn những gì xảy ra sau khi quảng cáo hoàn thành nhiệm vụ của nó.
Marketing số còn đem tới một lợi thế quan trọng khác: khả năng quan sát hành vi và học từ thị trường nhanh hơn. Website cho thấy người dùng quan tâm tới đâu. Biểu mẫu có thể cho thấy họ dừng ở bước nào. Chiến dịch cho thấy thông điệp nào tạo phản ứng tốt hơn. Hệ thống quản trị quan hệ khách hàng có thể cho thấy nhóm nào chuyển đổi hoặc quay lại. Dữ liệu duy trì khách hàng có thể giúp so sánh chất lượng của các nguồn thu hút khác nhau.
Tất nhiên, dữ liệu không tự đưa ra câu trả lời. Tỷ lệ nhấp cao không phải lúc nào cũng tốt nếu người nhấp không phải người phù hợp. Chi phí một khách hàng tiềm năng thấp không hẳn tốt nếu những người đó không chuyển đổi. Một nguồn truy cập nhỏ đôi khi có giá trị hơn nguồn lớn nếu những khách hàng từ đó phù hợp và ở lại lâu hơn.
Digital vì thế không chỉ là nơi marketing được thực hiện. Nó còn tạo điều kiện để marketing hình thành một vòng lặp:
Quan sát → Giả thuyết → Thử nghiệm → Đo lường → Học → Điều chỉnh.
Khi vòng lặp ấy hoạt động tốt, quảng cáo không chỉ là tiền mua sự chú ý. Nó còn là một công cụ học về thị trường.
Trước khi tăng ngân sách quảng cáo, tôi muốn biết sáu điều
Nếu phải cô đọng cách nhìn này thành một framework thực hành, trước khi kết luận rằng một bài toán marketing cần thêm ngân sách quảng cáo, tôi muốn nhìn ít nhất sáu tầng.
Thứ nhất, khách hàng là ai? Không chỉ là tuổi, địa điểm hay sở thích để nhập vào trình quản lý quảng cáo, mà là họ đang cố giải quyết vấn đề gì, điều gì khiến họ quan tâm, điều gì khiến họ do dự và họ đang cân nhắc mình cùng những lựa chọn nào khác.
Thứ hai, giá trị thực sự nằm ở đâu? Điều gì doanh nghiệp có thể đem tới mà khách hàng thực sự coi là đáng giá? Nó không nhất thiết phải là một USP chưa từng tồn tại trên thị trường, nhưng phải đủ rõ để khách hàng hiểu vì sao sản phẩm hoặc dịch vụ này phù hợp với họ.
Thứ ba, hành trình diễn ra như thế nào? Khách hàng biết tới thương hiệu ở đâu? Họ tìm hiểu thêm ở đâu? Ai hoặc điều gì ảnh hưởng tới quyết định? Bước nào khiến họ dễ bỏ cuộc? Quảng cáo chỉ là một điểm chạm trong hành trình ấy.
Thứ tư, trải nghiệm có khớp với lời hứa không? Nếu marketing hứa nhanh nhưng vận hành chậm, hứa đơn giản nhưng quy trình phức tạp, hứa quan tâm nhưng chăm sóc hời hợt, vấn đề không còn nằm ở media.
Thứ năm, chuyển đổi và duy trì đang diễn ra thế nào? Bao nhiêu người từ quan tâm trở thành khách hàng? Bao nhiêu người tiếp tục? Những người rời đi thường rời ở đâu và vì sao? Thu hút và duy trì phải được nhìn cạnh nhau để một bên không che lấp vấn đề của bên kia.
Cuối cùng, quảng cáo cần thực hiện nhiệm vụ gì? Tạo nhận biết, kiểm nghiệm nhu cầu, đưa lượt truy cập, tạo khách hàng tiềm năng, thúc đẩy chuyển đổi, tiếp thị lại hay mở rộng một nhóm khách hàng đã chứng minh được giá trị? Chỉ khi biết nhiệm vụ, chúng ta mới biết nên đánh giá quảng cáo bằng tiêu chí nào.
Tôi không cho rằng sáu câu hỏi này phải được trả lời hoàn hảo trước khi một chiến dịch bắt đầu. Thị trường luôn chứa những điều chỉ có thể học bằng cách thực sự bước vào. Nhưng ít nhất chúng giúp doanh nghiệp không biến một quyết định về media thành câu trả lời mặc định cho mọi vấn đề marketing.
Điều khó nhất không phải mua được một lượt nhấp
Các nền tảng quảng cáo ngày càng mạnh. Công nghệ tự động hóa, thuật toán phân phối, tối ưu giá thầu và công cụ đo lường có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng hiệu quả hơn rất nhiều so với trước đây.
Nhưng chính vì công cụ ngày càng mạnh, một nguy cơ khác cũng xuất hiện: chúng ta có thể dành rất nhiều thời gian tối ưu thứ nền tảng đo dễ nhất mà quên những điều quan trọng hơn nhưng khó nằm gọn trên dashboard. Khách hàng có tin mình không? Họ có thấy sản phẩm đáng giá không? Trải nghiệm có khiến họ muốn quay lại không? Lời hứa thương hiệu có được giữ khi quảng cáo đã kết thúc không?
Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng có một chỉ số duy nhất để trả lời, nhưng chúng quyết định giá trị lâu dài của marketing.
Quảng cáo rất mạnh. Nó có thể đưa một thương hiệu chưa được biết tới đến trước rất nhiều người, tạo ra khách hàng mới, kiểm nghiệm một giả thuyết nhanh hơn và giúp một doanh nghiệp nhỏ tiếp cận thị trường mà trước đây họ khó chạm tới. Chính vì mạnh như vậy, quảng cáo càng cần được đặt trong một hệ thống đủ tốt để sử dụng sức mạnh ấy.
Nếu không, doanh nghiệp có thể trở nên rất giỏi trong việc đưa thêm người tới một trải nghiệm mà họ chưa thực sự muốn quay lại.
Vì vậy, câu hỏi đầu tiên của marketing số không nên chỉ là:
“Chúng ta chạy quảng cáo ở đâu?”
Câu hỏi nên xuất hiện sớm hơn:
“Chúng ta đang tạo giá trị gì, cho ai, và điều gì xảy ra với họ từ lúc biết tới chúng ta cho tới sau khi họ trở thành khách hàng?”
Khi câu hỏi ấy ngày càng rõ, Facebook Ads, Google Ads, TikTok, SEO, content, CRM hay bất kỳ công cụ nào khác mới có một vị trí rõ ràng trong hệ thống. Còn nếu chưa rõ, thêm một kênh đôi khi chỉ có nghĩa là thêm một nơi để phân phối cùng một sự mơ hồ.
Quảng cáo có thể đưa khách hàng đến trước cửa. Marketing còn phải trả lời vì sao họ bước vào, ở lại và quay trở lại.
Tài liệu tham khảo
Lemon, K. N. & Verhoef, P. C. (2016). Understanding Customer Experience Throughout the Customer Journey. Journal of Marketing, 80(6), 69–96. DOI: 10.1509/jm.15.0420.
BIDV, Bản tin Đầu tư Phát triển số 297, tháng 5/2022. Tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng – Điều bắt buộc không thể đảo ngược. Tác giả: Minh Quân.
SHB NEWS, số 1/2019. Thẻ thanh toán SHB – Những trải nghiệm bất ngờ!. Tác giả: Minh Quân.
SHB NEWS, số 2/2019. Ngân hàng điện tử SHB: Đa tiện ích, bảo mật cao. Tác giả: Minh Quân.