Trách nhiệm với cuộc đời mình không có nghĩa là tự trách mình về mọi thứ
Có một lời khuyên tôi cho rằng về cơ bản là đúng: mỗi người cần học cách chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình. Khi thất bại, thay vì chỉ trách hoàn cảnh, trách người khác hay trách số phận, ta nên biết nhìn lại bản thân để xem mình đã làm gì chưa tốt, […]
Có một lời khuyên tôi cho rằng về cơ bản là đúng: mỗi người cần học cách chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình. Khi thất bại, thay vì chỉ trách hoàn cảnh, trách người khác hay trách số phận, ta nên biết nhìn lại bản thân để xem mình đã làm gì chưa tốt, đã bỏ qua điều gì và có thể thay đổi điều gì nếu một tình huống tương tự xảy ra trong tương lai.
Tôi cũng thường nhìn mọi việc theo cách ấy. Ngay cả khi một chuyện không hoàn toàn là lỗi của mình, tôi vẫn muốn soi lại chính mình để rút kinh nghiệm, để lần sau ứng xử tốt hơn, chuẩn bị tốt hơn và nếu có thể thì giúp cả những người xung quanh tránh lặp lại những sai lầm tương tự. Nhưng càng suy nghĩ về trách nhiệm, tôi càng thấy có một ranh giới cần được phân biệt: chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình không đồng nghĩa với nhận mọi lỗi về mình.
Nếu không phân biệt được hai điều ấy, một tư tưởng vốn giúp con người trưởng thành rất dễ biến thành một cách khác để hành hạ bản thân.
Chịu trách nhiệm và nhận lỗi không phải là một việc
Khi một chuyện không tốt xảy ra, chúng ta thường muốn biết lỗi thuộc về ai. Đó là một câu hỏi cần thiết, bởi có những sai lầm thực sự cần được nhìn nhận và có những trách nhiệm thực sự không thể né tránh. Nếu tôi làm tổn thương một người vì hành động của mình, tôi không thể dùng hai chữ “hoàn cảnh” để xóa đi phần trách nhiệm ấy. Nếu một quyết định sai xuất phát từ sự chủ quan, thiếu chuẩn bị hay bất cẩn của tôi, việc thừa nhận điều đó là cần thiết nếu tôi thực sự muốn trưởng thành.
Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng đơn giản đến mức mọi kết quả đều có thể quy về một người. Có những việc xảy ra vì quyết định của người khác. Có những thất bại chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, thời điểm, thông tin mà ta có lúc đó, những biến số ta không thể biết trước và đôi khi đơn giản là may rủi. Một người có thể chuẩn bị rất kỹ mà vẫn thất bại. Một người có thể đối xử chân thành mà vẫn bị phản bội. Một người có thể đưa ra một quyết định hợp lý dựa trên những gì mình biết ở thời điểm ấy, nhưng kết quả cuối cùng vẫn không như mong muốn.
Trong những trường hợp như vậy, nhận tất cả lỗi về mình không khiến ta trở nên có trách nhiệm hơn. Điều tôi thấy hữu ích hơn là tách hai câu hỏi ra khỏi nhau: “Phần lỗi nào thực sự thuộc về tôi?” và “Từ chuyện này, tôi có thể làm gì tốt hơn?”
Hai câu hỏi nghe khá giống nhau nhưng thực ra rất khác. Giả sử một người đã tin nhầm một ai đó và cuối cùng bị lừa dối. Người lừa dối phải chịu trách nhiệm cho hành vi của họ. Người bị lừa không cần nhận lỗi thay cho người kia để chứng minh rằng mình trưởng thành. Nhưng sau khi mọi chuyện đã xảy ra, họ vẫn có thể nhìn lại xem mình từng bỏ qua dấu hiệu nào, có đặt niềm tin quá nhanh không, cần thiết lập giới hạn nào và nếu gặp một tình huống tương tự thì mình sẽ ứng xử khác đi như thế nào.
Rút kinh nghiệm từ một chuyện không có nghĩa là nhận về mình một lỗi vốn không thuộc về mình. Theo tôi, đây là một trong những khác biệt quan trọng giữa trách nhiệm và tự trách.
Sau thất bại, “đáng lẽ mình phải biết” có thể là một cái bẫy
Có một kiểu suy nghĩ rất dễ xuất hiện sau thất bại: “Đáng lẽ mình phải biết.” Đáng lẽ tôi phải nhận ra người ấy không đáng tin. Đáng lẽ tôi phải biết quyết định ấy sẽ thất bại. Đáng lẽ tôi phải chọn con đường kia. Đáng lẽ tôi phải nhìn thấy những dấu hiệu mà bây giờ chúng dường như quá rõ ràng.
Nhưng có một vấn đề: con người đang nhìn lại quá khứ bằng những thông tin mà phiên bản của mình trong quá khứ chưa chắc đã có.
Tâm lý học gọi một hiện tượng liên quan đến điều này là hindsight bias, thường được hiểu là thiên kiến nhận thức muộn. Khi đã biết kết quả của một sự kiện, chúng ta có xu hướng cảm thấy kết quả ấy dễ dự đoán hơn so với trước khi nó xảy ra. Trong một bài tổng quan đăng trên Perspectives on Psychological Science, Neal Roese và Kathleen Vohs chỉ ra rằng hindsight bias có thể liên quan đến sự sai lệch trong ký ức, cách con người đánh giá khả năng xảy ra của một sự kiện và cách họ nhìn nhận khả năng dự đoán trước của chính mình.
Điều đó không có nghĩa là chúng ta được quyền dùng một khái niệm tâm lý học để bao biện cho mọi quyết định sai. Nếu đã có những dấu hiệu rất rõ mà ta vẫn cố tình bỏ qua, đó vẫn là điều đáng để nhìn lại. Nếu sự thiếu chuẩn bị, kiêu ngạo hay bất cẩn góp phần tạo ra thất bại, ta càng cần thừa nhận.
Nhưng rút kinh nghiệm khác với việc đưa con người của ngày hôm qua ra xét xử bằng toàn bộ kiến thức mà ta chỉ có được sau khi mọi chuyện đã kết thúc. Tôi nghĩ một cách công bằng hơn là hỏi: Với những thông tin mình thực sự có ở thời điểm đó, quyết định ấy có hợp lý không? Tôi đã bỏ qua điều gì mà khi ấy mình có khả năng nhận ra? Và phần nào chỉ trở nên rõ ràng sau khi tôi đã biết kết quả?
Câu hỏi như vậy khó hơn câu “Tại sao mình ngu thế?”, nhưng có lẽ cũng hữu ích hơn rất nhiều. Và đôi khi, sau khi đã nhìn đủ sâu vào quá khứ, điều một người cần làm không phải là tiếp tục xét xử mình, mà là học cách tha thứ cho quá khứ để có thể mang theo bài học mà không phải mang theo mãi bản án.
Tự trách chỉ có giá trị khi nó giúp ta nhìn rõ hơn
Tôi không cho rằng con người nên loại bỏ hoàn toàn việc tự trách bản thân. Bản thân tôi cũng có những lúc tự trách mình, và mục đích cuối cùng vẫn là muốn xây dựng bản thân tốt hơn mỗi ngày. Khi một việc không thành, phản xạ của tôi thường là nhìn lại xem mình còn có thể làm gì tốt hơn. Kể cả khi lỗi không hoàn toàn thuộc về mình, nếu tôi nhận ra có một cách ứng xử tốt hơn, một phương án phòng bị tốt hơn hay một điều mình có thể chuẩn bị kỹ hơn cho lần sau, thì bài học ấy vẫn đáng để giữ lại.
Nhưng có lẽ giá trị của việc tự nhìn lại không nằm ở việc ta có thể trách mình nặng nề đến đâu. Nó nằm ở việc sau khi nhìn lại, ta hiểu thêm được điều gì và thay đổi được điều gì.
Điểm này cũng có một sự tương ứng đáng chú ý trong nghiên cứu tâm lý học. Trong một chuỗi bốn thí nghiệm, Juliana Breines và Serena Chen nghiên cứu cách con người phản ứng với điểm yếu, sai phạm và thất bại. Kết quả cho thấy trong những tình huống được nghiên cứu, việc đối xử với bản thân bằng sự cảm thông không nhất thiết làm giảm động lực sửa mình; ngược lại, những người ở điều kiện self-compassion còn thể hiện động lực tự cải thiện cao hơn ở một số thước đo, như mong muốn sửa chữa sai phạm, tránh lặp lại hành vi và dành thêm thời gian chuẩn bị sau một thất bại.
Điều ấy khiến tôi nghĩ rằng giữa hai cực “không bao giờ nhận lỗi” và “phải dằn vặt bản thân mới có thể tiến bộ” vẫn còn một con đường khác. Ta có thể nghiêm khắc với hành động của mình mà không cần phủ định toàn bộ con người mình. Ta có thể thừa nhận một quyết định tồi mà không cần kết luận mình là một người tồi. Ta có thể hối tiếc, sửa sai và chịu hậu quả cần thiết mà không biến sự hối tiếc thành một bản án kéo dài vô thời hạn.
Tự trách chỉ có giá trị khi nó giúp ta nhìn rõ hơn. Nếu nó chỉ khiến ta đau hơn mà không khiến ta hiểu hơn, có lẽ đó không còn là trách nhiệm.
Bởi mục tiêu cuối cùng của việc nhìn lại quá khứ, theo tôi, không phải để tìm thêm lý do trừng phạt con người mình đã từng là. Mục tiêu là để con người mình sẽ trở thành có thể làm tốt hơn. Và từ hiểu biết đến thay đổi thực sự vẫn còn một khoảng cách. Đó cũng là lý do kỷ luật bản thân trở nên cần thiết: một bài học chỉ thật sự đi vào cuộc sống khi điều ta nhận ra bắt đầu thay đổi cách ta hành động.
Thành công cũng cần một người biết chịu trách nhiệm
Chúng ta thường nói về trách nhiệm khi có chuyện không tốt xảy ra. Một dự án thất bại, một quyết định sai, một mối quan hệ đổ vỡ, một cơ hội bị bỏ lỡ, lúc ấy người ta mới hỏi: “Ai chịu trách nhiệm?”
Nhưng tôi nghĩ thành công cũng cần trách nhiệm.
Khi thành công, điều đầu tiên tôi muốn nhắc mình là phải nhìn nhận nó một cách khiêm tốn. Một kết quả tốt có thể đến từ năng lực và nỗ lực của chính mình, nhưng hiếm khi chỉ có từng ấy. Đằng sau một thành quả có thể còn là những người đã hỗ trợ mình, một tập thể cùng làm việc, những cơ hội mình được trao, một thời điểm thuận lợi và cả những yếu tố may mắn mà bản thân không thể nhận hết công lao.
Nhìn nhận như vậy không phải để phủ nhận nỗ lực của mình. Ngược lại, nó giúp ta hiểu chính xác hơn điều gì đã tạo nên kết quả ấy. Nếu một việc thành công, tôi muốn biết đâu là điều mình đã làm đúng để có thể tiếp tục giữ vững; đâu là điều vẫn còn có thể cải thiện; đâu là đóng góp của người khác cần được ghi nhận; và đâu là những thuận lợi có thể không còn xuất hiện trong lần tiếp theo. Một chiến thắng nếu chỉ khiến con người tin rằng mình luôn đúng đôi khi lại chuẩn bị cho một thất bại về sau.
Thất bại cũng vậy. Tôi không muốn chỉ dừng ở việc buồn vì nó, càng không muốn biến nó thành một câu chuyện đẹp một cách gượng ép rằng “mọi thất bại đều là bài học”. Thất bại chỉ thực sự có giá trị khi chúng ta học được điều gì đó từ nó. Nếu một sai lầm lặp đi lặp lại mà cách suy nghĩ và hành động của ta vẫn nguyên vẹn, cái giá đã trả chưa chắc đã mua được bài học nào.
Với tôi, chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình vì thế không chỉ là thái độ khi thua. Nó còn là cách ta ứng xử khi thắng: thành công thì đủ khiêm tốn để hiểu vì sao mình thành công và tìm cách giữ vững hoặc làm tốt hơn; thất bại thì đủ bình tĩnh để hiểu vì sao mình thất bại và chuẩn bị để nếu gặp lại một tình huống tương tự, mình có thể tạo ra một kết quả khác.
Nhận đúng phần của mình, rồi làm tốt phần còn lại
Có lẽ chúng ta không thể sống một cuộc đời mà mọi biến số đều nằm trong tay mình. Ta không lựa chọn được tất cả những người mình sẽ gặp. Không thể biết trước mọi biến cố. Không kiểm soát được cách người khác đối xử với mình. Không phải cứ cố gắng là chắc chắn thành công, cũng không phải mọi thất bại đều chứng minh rằng ta đã làm sai.
Nhưng điều ấy không khiến trách nhiệm cá nhân trở nên vô nghĩa. Ngược lại, chính vì có rất nhiều thứ không thuộc quyền kiểm soát của mình nên việc nhận ra phần nào thực sự thuộc về mình càng quan trọng.
Có những việc ta có lỗi. Khi ấy, điều cần làm là thừa nhận, sửa chữa nếu còn có thể, chấp nhận hậu quả cần thiết và cố gắng không lặp lại. Có những việc ta không có lỗi, nhưng vẫn có điều để học. Khi ấy, ta không cần nhận tội thay cho người khác hay cho hoàn cảnh; ta chỉ cần mang theo phần kinh nghiệm có ích.
Và cũng có những việc mà dù nhìn lại bao nhiêu lần, ta vẫn phải thừa nhận rằng với những gì mình biết và có thể làm ở thời điểm ấy, mình đã cố gắng hết sức. Khi đó, trách nhiệm đôi khi không phải là tiếp tục tự trách, mà là chấp nhận giới hạn của con người và bước tiếp.
Tôi vẫn tin vào việc soi lại chính mình. Tôi vẫn tin một người trưởng thành không nên biến hoàn cảnh thành lời giải thích cho tất cả những gì không như ý trong cuộc đời. Nhưng tôi cũng không nghĩ trưởng thành là khả năng gánh lên vai mọi lỗi lầm xảy ra quanh mình.
Chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình không có nghĩa là nhận mọi lỗi về mình. Đó là nhìn trung thực vào phần thuộc về mình, không nhận thay phần lỗi không thuộc về mình, rồi làm tốt nhất có thể với phần còn nằm trong khả năng lựa chọn.
Có lẽ trưởng thành cũng nằm ở đó: đủ trung thực để nhận đúng phần của mình, đủ tỉnh táo để không nhận thay phần của người khác, và đủ trách nhiệm để làm tốt phần cuộc đời vẫn còn nằm trong tay mình.
Tài liệu tham khảo
Breines, J. G. & Chen, S. (2012). Self-Compassion Increases Self-Improvement Motivation. Personality and Social Psychology Bulletin, 38(9), 1133–1143. DOI: 10.1177/0146167212445599.
Roese, N. J. & Vohs, K. D. (2012). Hindsight Bias. Perspectives on Psychological Science, 7(5), 411–426. DOI: 10.1177/1745691612454303.
Guilbault, R. L., Bryant, F. B., Brockway, J. H. & Posavac, E. J. (2004). A Meta-Analysis of Research on Hindsight Bias. Basic and Applied Social Psychology, 26(2–3), 103–117. DOI: 10.1080/01973533.2004.9646399.